Mode:     
20 Tháng Giêng 2021
   VỀ ISCHOOLNET
   Login  
Hướng dẫn tự học khối 12 Minimize
ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VỢ NHẶT
Cập nhật bởi: v_ntm - Vào ngày: 24/05/2020 6:12:58 CH - Số lượt xem: 320

ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VỢ NHẶT

 

ĐỀ SỐ 4

 

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc các đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao.

(Trích Trong lời mẹ hát -Trương Nam Hương)

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

(Trích Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm)

Câu 1. Những đối tượng nào được nhắc đến trong cả hai đoạn thơ?

Câu 2. Nghệ thuật tương phản được sử dụng trong những câu thơ nào của đoạn thơ thứ hai?

Câu 3. Làm rõ hiệu quả nghệ thuật của phép nhân hoá được sử dụng trong câu thơ: “ Thời gian chạy qua tóc mẹ”.

Câu 4. Hãy chỉ ra một điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ mà anh/chị tâm đắc.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) về điều mà những người con cần biết, cần làm để thể hiện tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ.

Câu 2 (5,0 điểm)

Khi trả lời phỏng vấn về cảm hứng sáng tác truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân tâm sự rằng: “Tôi viết về cái đói để khẳng định sự thật này: những người đói khổ “dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, hướng về ánh sáng, tin vào sự sống và vẫn hy vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”

(Theo Hương Giang, Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt, Báo Văn nghệ số 19, ngày 8/5/1993, tr.5).

Anh/Chị hãy phân tích nhân vật Tràng trong truyện Vợ nhặt để làm rõ ý đồ sáng tác của tác giả.

                             ---------------------------------

 

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1. Những đối tượng được nhắc đến trong cả hai đoạn thơ: người mẹ và con.

Câu 2. Nghệ thuật tương phản được thể hiện trong các câu thơ: “Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên/ Còn những bí và bầu thì lớn xuống”.

Câu 3. Hiệu quả của phép nhân hoá được sử dụng trong câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”:

- Phép nhân hóa: “Thời gian chạy”

- Hiệu quả: làm câu thơ sinh động, hấp dẫn; nhấn mạnh sự trôi qua nhanh chóng của thời gian, đồng nghĩa với dấu ấn tuổi tác (tuổi già) của mẹ; sự xót xa, lo lắng của người con hiếu thảo.

Câu 4. Một điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ về phương diện nội dung hoặc nghệ thuật; chẳng hạn: Cả hai đoạn thơ đều làm bật lên hình ảnh người mẹ với sự hi sinh thầm lặng và tình cảm yêu thương biết ơn của con với mẹ...

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Yêu cầu: Đảm bảo dung lượng (khoảng 200 chữ); hình thức, nội dung của đoạn văn; HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, song hành, móc xích; có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận: về điểu mà những người con cần biết, cần làm để thể hiện tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ.

Sau đây là một gợi ý:

- Để thể hiện tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, đầu tiên những người con cần nhận thức, thấu hiểu được công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ; sự hi sinh vất vả của cha mẹ;

- Tấm lòng hiếu thảo đối với cha mẹ cẩn được thể hiện bằng những việc làm, hành động cụ thể: khi còn nhỏ: cố gắng tu dưỡng, học tập để hoàn thiện và phát triển bản thân; khi trưởng thành: chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ già yếu, bệnh tật...

Đoạn văn tham khảo:

Vẫn còn rất nhiều điều mà những đứa con cần biết, cần làm để thể hiện tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ. Khi ta còn bé, cha mẹ luôn theo sát, hướng dẫn, bảo ban ta từng tí. Khi ta đã lớn khôn hơn, họ vẫn luôn bên cạnh động viên, chăm sóc ta từng miếng ăn, giấc ngủ. Có lẽ đối với cha mẹ, ta vẫn luôn là đứa con bé dại cần được chở che. Những khi đã trưởng thành, có mấy đứa con nghĩ về điều đó với một sự ăn năn hay niềm xúc động trào dâng? Hẳn nhiều người trong chúng ta đã bình thản nhận sự chăm sóc đó như một lẽ thường tình, hay nghĩ là “nước mắt chảy xuôi”... Hiếu thảo với cha mẹ, bắt đầu từ việc nhận thức được công ơn to lớn của đấng sinh thành, để cảm hiểu hết những nhọc nhằn của cha mẹ vì con cái. Hãy cố gắng đặt mình vào vị trí của cha mẹ để thấu hiểu hết những lo toan, vất vả. Cũng đừng bao giờ khó chịu, bực bội khi cha mẹ la rầy vì có thể do họ quá vất vả, mà ta thì lại làm cho họ phải buồn lòng. Năm tháng rồi sẽ đi qua, cha mẹ sẽ già và cũng sẽ không ở bên ta suốt cuộc đời, lúc ấy ta có muốn tỏ lòng hiếu thảo cũng không còn cơ hội. Vậy nên, hãy bắt đầu thể hiện lòng hiếu thảo với cha mẹ mình ngay từ bây giờ, có thể chỉ bằng một nụ cười, ánh mắt biết ơn...

(Nguyễn Thị Thu Trang, 12 CV1, THPT chuyên Lê Hông Phong, TP HCM)

Câu 2 (5,0 điểm)

I. Đặt vấn đề

 Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt; nêu ý đồ sáng tác của tác giả; dẫn dắt vào nhân vật Tràng.

II.Giải quyết vấn đề

1. Câu chuyện nhặt vợ của Tràng được tác giả đặt trên nền một khung cảnh “tối sầm vì đói khát”:

 Người chết đói “nằm còng queo bền vệ đường”, người đói từ các vùng “lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”. Khắp nơi “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”...

2. Phải cảm nhận được cảnh đói khát cùng cực ấy mới thấy hết sự “liều lĩnh” trong hành động của Tràng:

- Anh nông dân nghèo khổ không khỏi cảm thấy “chợn” khi người đàn bà kia theo về: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng niềm khao khát hạnh phúc đã lấn át nỗi sợ, nỗi lo.

- Sự kiện “nhặt vợ” đã mang đến những đổi thay lớn trong con người Tràng. Có lẽ lần đầu tiên trong đời, anh con trai vụng về, thô kệch được biết đến cảm giác gắn bó, yêu thương một “người dưng”. Trên con đường đưa cô vợ nhặt về nhà, Tràng muốn nói một lời tình tứ để làm thân mà không nói được, chỉ biết lúng túng “tay nọ xoa vào vai kia”. Nhưng trong lòng Tràng trỗi dậy niềm vui sướng khiến anh ta “hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Lòng hắn bấy giờ chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”...

- Cảm giác ngọt ngào, êm ái đó càng rõ nét hơn khi Tràng chứng kiến sự đổi thay trong ngôi nhà “dúm dó, xiêu vẹo” của mình vào buổi sáng hôm sau:

+ Nhìn chỗ nào, Tràng cũng thấy mới mẻ, khác lạ: “Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”.

+ Quan sát mẹ và vợ quét tước, dọn dẹp nhà cửa, Tràng bỗng thấy “thấm thìa cảm động”. Bởi vì, cảnh tượng thật bình thường, đơn giản ấy chính là “bằng chứng” cho một điều kì diệu: “Hắn đã có một gia đình”. Tràng bỗng thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn một cách lạ lùng vì bây giờ nó đã trở thành tổ ấm “Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây”. Tràng thực sự trưởng thành với ý thức về bổn phận của một người đàn ông trụ cột trong gia đình: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

- Qua cách kể của Kim Lân, câu chuyện nhặt vợ tưởng là bi hài đã hóa thành khúc ca về sức sống mãnh liệt trong tâm hồn người lao động:

+ Ngay trong đói khổ cùng cực - khi người ta ngỡ chỉ còn nghĩ được đến miếng ăn, chỉ còn sống với nỗi lo âu về cái chết, thì Tràng vẫn khát khao được sống như một con người thực sự.

+ Khát vọng hạnh phúc bình dị mà tha thiết, mãnh liệt ấy khiến người đọc không hề bất ngờ khi ngồi bên mâm cơm ngày đói, Tràng chợt nghĩ đến những người đói đi phá kho thóc của Nhật. Đó cũng là hình ảnh nhà văn chọn để kết thúc tác phẩm: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới...” Nó gieo vào lòng người đọc niềm tin rằng, trong dòng người “như nước vỡ bờ” của những ngày tháng Tám năm 1945, không thể không có Tràng.

III.Kết thúc vấn đề

- Xây dựng nhân vật Tràng, Kim Lân đã khẳng định, ngợi ca khát vọng hạnh phúc, niềm tin vào sự sống tiềm ẩn trong tâm hồn người lao động. Những phẩm chất quý giá đó là “điểm sáng” ngời lên ngay giữa cuộc sống tăm tối, cùng khổ.

- Kim Lân quả thực là nhà văn của những thuần hậu nguyên thủy“một lòng đi, về với đất với người”.

                                      ----------------------------------

 

ĐỀ SỐ 5


I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý nghĩa.
Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh hay dại khờ, tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực hay tiêu cực của mỗi người. Như chính trị gia người Anh, Sir Winston Churchill, từng nói, "Người bi quan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong mỗi khó khăn". Sẽ có những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủa vây, che lấp những cơ hội dẫn tới thành công. Tuy nhiên, đừng sa vào vũng lầy bi quan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc sống. Đó là một điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói thực sự là trải nghiệm mà bạn nên có trong đời. Vì vậy, hãy thất bại một cách tích cực.
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định chủ đề chính của đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm): Tại sao tác giả lại nói: … “thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc sống”…
Câu 3 (1,0 điểm): Anh/chị hiểu như thế nào về lời khuyên: “Hãy thất bại một cách tích cực”
Câu 4 (1,0 điểm): Điều anh chị tâm đắc nhất qua đoạn trích là gì?
PHẦN II – LÀM VĂN
Câu 1 (NLXH)
Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau: Người thành công luôn tìm thấy cơ hội trong mọi khó khăn. Kẻ thất bại luôn thấy khó khăn  trong mọi cơ hội.
Câu 2 (NLVH)
Cảm nhận của anh/chị về khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt trong truyện Vợ nhặt (Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, sđd, tr.23). Từ đó, nhận xét về giá trị nhân đạo mà nhà văn thể hiện qua nhân vật này

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
 Câu 1: Xác định chủ đề chính của đoạn trích?
Chủ đề chính của đoạn trích là nói về sự tất yếu của thành công và thất bại trong cuộc sống của con người.
 Câu 2: Tại sao tác giả lại nói: “thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc sống”…
  - “Lẽ tự nhiên” hay “phần tất yếu” tức là điều khách quan, ngoài ý muốn con người và con người không thể thay đổi.
  + Bởi vì trong cuộc sống không ai là không gặp thất bại. Có người thấy bại nhiều, thất bại lớn. Có người thất bại ít, thất bại nhỏ.
  + Vì đó là điều tất yếu nên ta đừng thất vọng và chản nản. Hãy dũng cảm đối mặt và vượt qua.
 Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về lời khuyên: “Hãy thất bại một cách tích cực”
            - Thất bại một cách tích cực được hiểu theo những ý nghĩa sau:
            + nghĩa là thất bại nhưng không bi quan, chán nản
            + nghĩa là thất bại nhưng hiểu được nguyên nhân vì sao mình thất bại
            + thất bại nhưng biết tự mình đứng lên, rút ra bài học và tiếp tục hành động.
 Câu 4: Điều anh chị tâm đắc nhất qua đoạn trích là gì?
 Không nên sợ thất bại. Cần nhận ra mặt tích cực của sự thất bại để không tiếp tục phạm phải sai lầm.
PHẦN II – LÀM VĂN
Câu 1 (NLXH)
* Giải thích:
    - Người thành công là người đạt được mục đích mà mình đặt ra sau một quá trình nỗ lực, cố gắng.
     Kẻ thất bại là người không thực hiện được những mong muốn, dự định đã đặt ra.
     - Cơ hội: hoàn cảnh thuận tiện gặp được để làm việc gì mình mong ước.
* Về thực chất, câu nói khẳng định sự thành bại của mỗi người phụ thuộc vào cách người ấy đón nhận và xử thế trước những vấn đề của đời sống.
* Bình luận

 Thành và bại luôn song hành như một thực thể khách quan. Không ai không từng gặp thất bại, ngay cả những người thành công. (dẫn chứng)

 - Sự thành bại của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào tài năng hay cơ hội mà còn ở thái độ của người đó trước những khó khăn trong cuộc sống:
        + Với những người giàu nghị lực, mỗi khó khăn là cơ hội để tích lũy kinh nghiệm, kiểm chứng năng lực của bản thân. Và như thế, họ sẽ luôn tìm thấy cơ hội trong mỗi khó khăn để thành công.
        + Với những người bi quan, lười biếng khi gặp khó khăn thử thách vội chán nản, tự tìm thấy lí do để thoái thác công việc, từ bỏ ước mơ. Không vượt qua khó khăn càng khiến họ mất hết niềm tin để rồi chỉ thấy khó khăn trong mọi cơ hội. Và chắc chắn họ sẽ luôn thất bại.
- Cuộc sống rất khắc nghiệt nhưng luôn ẩn giấu nhiều cơ hội mà mọi người cần nắm bắt.

 - Sự thành bại ở một giai đoạn không có ý nghĩa trong suốt cả cuộc đời. Mọi người cần có cách ứng xử trước mọi thành bại để đạt được những điều mình mong ước. Thành công chỉ có được sau quá trình học tập, tích lũy, nỗ lực, rèn luyện lâu dài.

 - Phê phán thái độ sống hèn nhát, lười biếng, dễ gục ngã, mất niềm tin sau những lần thất bại.
Bài học nhận thức và hành động

 - Cần phải có niềm tin, nghị lực lớn để vượt qua những thử thách khó khăn trong cuộc sống, để luôn tìm thấy cơ hội trong mọi khó khăn.

 - Không ngại đối mặt với khó khăn. Coi khó khăn, thử thách như một phần tất yếu của cuộc sống.
     - Luôn hành động mạnh mẽ, quyết đoán để khắc phục khó khăn…
Câu 2 (NLVH)
I. Đặt vấn đề

 Tham khảo gợi ý sau:

- Kim Lân được mệnh danh là “nhà văn của đồng ruộng”, “một lòng đi, về với đất, với người”.

- Vợ nhặt là truyện ngắn thảnh công nhất của Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí xuất bản 1962. Bối cảnh nhà văn lựa chọn để dựng truyện là nạn đói khủng khiếp năm 1945. Trong nhiều cuộc trò chuyện, trao đổi về tác phẩm, ông đều tâm sự rằng mình viết vế cái đói để khẳng định mục đích này: Cái điểm sáng mà tôi đưa vào trong truyện là những suy nghĩ về nhân phẩm con người. Tôi chú ý: tuy trong cảnh nghèo đói nhưng con người ta vẫn giữ gìn đạo lí.

- Giới thiệu nhân vật người vợ nhặt.

II. Giải quyết vấn đề: Cảm nhận về khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt, cần nêu được các ý cơ bản sau:

- Khát vọng sống của nhân vật trước hết thể hiện ở khát vọng được sống qua nạn đói (qua việc người đàn bà bám víu vào câu hò của Tràng, gợi ý để đòi ăn; chấp nhận theo không Tràng...).

- Khát vọng về hạnh phúc gia đình, về tương lai (thể hiện qua hành động cùng mẹ chổng quét dọn nhà cửa; sự đúng mực, ý tứ trong bữa cơm ngày đói,...).

- Nghệ thuật thể hiện khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt.

 

2. Nhận xét về giá trị nhân đạo mà nhà văn thể hiện qua nhân vật người vợ nhặt:

Khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt thể hiện cái nhìn phát hiện, trân trọng của Kim Lân về phẩm chất tốt đẹp của người nông dân trong nạn đói: trong hoàn cảnh khốn cùng, người nông dân vẫn thể hiện được phẩm chất tốt đẹp. Đây cũng chính là biểu hiện quan trọng nhất của giá trị nhân đạo trong tác phẩm.

 

III. Kết thúc vấn đề

- Nhấn mạnh đóng góp quan trọng của nhân vật vào việc thể hiện tư tưởng của tác giả, chủ đề của tác phẩm.

- Thể hiện tấm lòng đồng cảm và trân trọng của Kim Lân dành cho những kiếp người nhỏ bé, cùng khổ.

 

ĐỀ SỐ 6

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu:

CÁI LẠNH

Sáu con người, do sự tình cờ của số phận, mắc kẹt vào cùng một cái hang rất tối và lạnh. Mỗi người còn một que củi nhỏ trong khi đống lửa chính đang lụi dần.

Người phụ nữ đầu tiên định quẳng que củi vào lửa, nhưng đột nhiên rụt tay lại. Bà vừa nhìn thấy một khuôn mặt da đen trong nhóm người da trắng.

Người thứ hai lướt qua các bộ mặt quanh đống lửa, thấy một người trong số đó không đi chung nhà thờ với ông ta. Vậy là thanh củi cũng bị thu về.

Người thứ ba trầm ngâm trong một bộ quần áo nhàu nát. Ông ta kéo áo lên tận cổ, nhìn người đối diện, nghĩ thầm:“Tại sao mình lại phải hi sinh thanh củi để sưởi ấm cho con heo béo ị giàu có kia?”

Người đàn ông giàu lui lại một chút, nhẩm tính:“Thanh củi trong tay, phải khó nhọc lắm mới kiếm được, tại sao ta phải chia sẻ nó với tên khố rách áo ôm lười biếng đó”.

Ánh lửa bùng lên một lần cuối, soi rõ khuôn mặt người da đen đang đanh lại, lộ ra những nét hằn thù:“Không, ta không cho phép mình dùng thanh củi này sưởi ấm những gã da trắng!”

Chỉ còn lại người cuối cùng trong nhóm. Nhìn những người khá trầm ngâm trong im lặng, anh ta tự nhủ:“Mình sẽ cho thanh củi, nếu có ai đó ném phần của họ vào đống lửa trước”.

Cứ thế, đêm xuống dần. Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những khúc củi. Đống lửa chỉ còn than đỏ rồi lụi tắt.

Sáng hôm sau, khi những người cứu hộ tới nơi, cả sáu đều đã chết cóng. Họ không chết vì cái lạnh bên ngoài mà chết vì sự buốt giá trong sâu thẳm tâm hồn.

(Theo “Lời nói của trái tim”, NXB Văn hóa Sài Gòn)

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm): Tác giả đặt các nhân vật vào tình huống nào?

Câu 3 (1,0 điểm): Hình ảnh Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những khúc củi thể hiện điều gì?

Câu 4 (1,0 điểm): Thông điệp sâu sắc nhất anh/chị rút ra từ văn bản trên là gì?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề được nêu trong phần Đọc hiểu: Họ không chết vì cái lạnh bên ngoài mà chết vì sự buốt giá trong sâu thẳm tâm hồn.

Câu 2 (5.0 điểm)

Phân tích tình huống truyện độc đáo của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân, Ngữ văn 12,Tập hai, sđd, tr.23).

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong văn bản: Tự sự

Câu 2: Tác giả đặt các nhân vật vào tình huống: Sáu người bị mắc kẹt vào một cái hang, thời tiết lạnh lẽo, khắc nghiệt, đống lửa duy nhất lại đang tàn dần trong khi đó mỗi người đều đang sở hữu một que củi

Câu 3: Hình ảnh Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những khúc củi thể hiện sự ích kỉ, nhỏ nhen, muốn sở hữu và giữ chặt thứ mình có

Câu 4: Thông điệp sâu sắc nhất anh/chị rút ra từ văn bản trên : HS trình bày suy nghĩ cá nhân, lí giải vì sao thông điệp đó có ý nghĩa sâu sắc nhất đối với mình.Có thể lựa chọn thông điệpvề cách ứng xử giữa người với người, nhất là trong cơn hoạn nạn; về tình đoàn kết, sẻ chia.

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm) Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề được nêu trong phần Đọc hiểu: Họ không chết vì cái lạnh bên ngoài mà chết vì sự buốt giá trong sâu thẳm tâm hồn.

Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có thể viết đoạn theo định hướng sau:

- Giải thích: chính sự toan tính đầy ích kỉ trong suy nghĩ và hành động đã giết chết sáu con người đang mắc kẹt trong hang. Đó không chỉ là cái chết về thể xác mà còn là cái chết trong tâm hồn.

- Bàn luận:

+ Sự ích kỉ, nhỏ nhen là lối sống tiêu cực, hèn hạ, khiến con người cách xa nhau, chúng sẽ đưa con người đến thế giới của sự cô đơn.

 + Tình yêu thương, sự đoàn kết, chia sẻ đùm bọc lẫn nhau trong hoàn cảnh khó khăn tạo sẽ nên nguồn sức mạnh tinh thần to lớn sưởi ấm tâm hồn để vượt qua những gian lao.

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Nhìn cuộc sống và con người bằng đôi mắt của tình thương và sự cảm thông.

+ Tu dưỡng, rèn luyện nhân cách theo chuẩn mực của đạo đức và đạo lí xã hội.

Câu 2 (5.0 điểm)

I. Đặt vấn đề

- Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt (tham khảo gợi ý ở đề 3).

- Trong truyện ngắn Vợ nhặt, tác giả đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn.

II. Giải quyết vấn đề

1. Giải thích ngắn gọn vai trò của tình huống trong truyện ngắn (Tình huống là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt nào đó khiến cho bức tranh cuộc sống và tư tưởng của tác giả được bộc lộ rõ nét nhất). Tình huống truyện cũng bao hàm các mối quan hệ giữa nhân vật và môi trường sống, giữa các nhân vật với nhau...

2. Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân):

- Tình huống truyện lạ, bất ngờ:

+ Vì người như Tràng hội tụ đủ các điểu kiện để “ế vợ”: nghèo túng, dân ngụ cư, vẻ ngoài xấu xí, thô kệch; nay bỗng dưng lấy được vợ, thậm chí là vợ Theo không”.

+ Vì giữa thời buổi đói khổ cùng cực, người như Tràng nuôi thân chẳng nổi còn dám đèo bòng chuyện vợ con.

- Tình huống “nhặt vợ” giữa những ngày đói rét thê thảm vừa bất ngờ vừa éo le khiến cho tất cả những người chứng kiến đều ngạc nhiên, đều cảm thấy vui buồn trộn lẫn:

+ Những người dân xóm ngụ cư xôn xao khi thấy Tràng trở về cùng người đàn bà lạ. Họ tò mò, náo nức, quên cả cái đói. Những khuôn mặt hốc hác, u tối rạng rỡ hẳn lên: “Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống” của họ. Nhưng từ đám đông, có cả những lời xót xa, ái ngại: “Ôi chao! Giời đất này mà còn đi rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”.

+ Bà cụ Tứ - mẹ của Tràng cũng sửng sốt khi nhìn thấy “người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia”. Tràng phải giải thích cặn kẽ, tường tận, bà lão mới hiểu ra cơ sự. Dẫu “mừng lòng” vì con trai mình đã có vợ , bà cụ vẫn không nén được bao nỗi xót thương, buồn tủi, lo âu.

+ Ngay bản thân Tràng, cũng bàng hoàng khi nhìn cô vợ nhặt ngồi ngay giữa nhà “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”

- Tạo dựng tình huống truyện độc đáo ấy, Kim Lân không chỉ mang đến sức hấp dẫn cho cốt truyện mà còn bộc lộ được thân phận của những con người cùng khổ. Đó cũng là cái nền để nhà văn tô đậm những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn họ và phơi bày thực trạng xã hội đương thời:

+ Lên án, tố cáo thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945, khiến con người rơi vào thân phận rẻ mạt. Việc trăm năm của đời người mà rẻ rúng đến tội nghiệp. Cuộc hôn nhân không cưới hỏi, không có nổi mâm cơm cúng gia tiên, cả nhà còn phải ăn cháo cám.

+ Tiếng nói khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con người. Đó là tình mẹ thương con, tình người thương người - không tàn lụi kể cả khi con người bị đẩy đến bên bờ vực của cái chết. Bà cụ Tứ xót thương cho con trai; thương cho cả người con dâu “nhặt được”. Bà mở lòng, đón nhận người phụ nữ đói rách, xa lạ vào gia đình mình: “Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Anh nông dân nghèo khổ, lam lũ, thô kệch vẫn dành cho người vợ nhặt được tình cảm yêu thương chân thành, ấm áp.

+ Ngợi ca khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc tiềm ẩn trong tâm hồn người lao động. Ngay trong cảnh cùng khổ, Tràng vẫn khát khao có một tổ ấm; bà cụ Tứ vẫn tin ở sự sống và tương lai; người vợ nhặt cũng không buông xuôi, không tuyệt vọng.

III. Kết thúc vấn đề

Tình huống truyện độc đáo không chỉ mang lại sức cuốn hút cho câu chuyện mà còn thể hiện được tư tưởng nhân đạo của tác giả.

 

Các tin khác
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HKI - 2020-2021 21/12/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HKI-2020-2021 18/12/2020
MA TRẬN KIỂM TRA GIỮA KÌ NĂM HỌC 2020-2021 24/10/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020-VIỆT BẮC 15/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020-TÂY TIẾN 15/06/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HỌC KÌ II 06/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020- BÀI ĐẤT NƯỚC (NGUYỄN KHOA ĐIỀM) 03/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020- BÀI SÓNG (XUÂN QUỲNH) 03/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI THPTQG 2020 - BÀI NLĐSĐ & AĐĐTCDS 28/05/2020
ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VCAP 24/05/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 27 19/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 26 19/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 25 13/04/2020
ĐỀ THAM KHẢO VĂN 12-1920-VCAP 03/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 24 29/03/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12, KI DO NGHỈ DICH COVID-19 .docx 24/02/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12- TUẦN 23- NH 19-20 16/02/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 12- TUẦN 21- 22- NH19-20 08/02/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12- HKI- NH 2019-2020 12/12/2019
ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN KTHKII- VĂN 12- NH 18-19 05/05/2019
Open the calendar popup.
 
Bản quyền Trường THPT Lê Quý Đôn
Địa chỉ: 152 Trần Dư, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam    Điện thoại: 0235.3851248
Website: thpt-lequydon.edu.vn
Đơn vị phát triển: Trung tâm CNTT - Truyền thông Quảng Nam (QTI)