Mode:     
27 Tháng Giêng 2021
   VỀ ISCHOOLNET
   Login  
Hướng dẫn tự học khối 12 Minimize
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 25
Cập nhật bởi: v_ntm - Vào ngày: 13/04/2020 2:55:13 CH - Số lượt xem: 632

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC TUẦN 25

CỦNG CỐ KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

A.   CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN XUÔI

I. Mở bài:

- Giới thiệu xuất xứ của nhân vật cần phân tích ( nhân vật trong tác phẩm nào? Của ai? Sáng tác trong hoàn cảnh nào?).

- Nêu khái quát đặc điểm của nhân vật cần nghị luận

II. Thân bài:

- Bước 1: Nêu giới thiệu khái quát về nhân vật

- Bước 2: Triển khai phân tích (hay cảm nhận ) các đặc điểm của nhân vật theo yêu cầu của đề ( Lai lịch, ngoại hình, tính cách, số phận....)

LƯU Ý:

+ Tùy vào từng đặc điểm của nhân vật có trong tác phẩm để phân tích , cảm nhận

+ Mỗi một đặc điểm của nhân vật được phân tích (hay cảm nhận), được viết  thành một hay nhiều đoạn văn. Các đoạn văn có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau ( diễn dịch, quy nạp hoặc tổng phân hợp….) và được liên kết với nhau bằng các câu từ chuyển ý.

+ Khi phân tích, cần chọn lọc dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh làm rõ từng đặc điểm của nhân vật ( theo nguyên tắc : “nói có sách, mách có chứng”)

- Bước 3: Đánh giá chung về

+ Nghệ thuật xây dựng và miêu tả nhân vật của nhà văn

+ Vai trò của nhân vật trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm và quan điểm nghệ thuật của nhà văn

III. Kết bài:

- Tính điển hình của nhân vật đã phân tích.

- Nhận xét, đánh giá chung những thành công và hạn chế (nếu có) về xây dựng nhân vật

 

B.     CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI

 

I. Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm cần phân tích

- Nêu khái quát nội dung vấn đề cần nghị luận

II. Thân bài:

- Bước 1: Nêu khái quát nội dung vấn đề cần nghị luận

- Bước 2: Lần lượt phân tích, chứng minh, bình luận những biểu hiện cụ thể về giá trị nội dung hay giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà đề yêu cầu nghị luận.

 (Mỗi luận điểm được trình bày bằng một đoạn văn bằng cách diễn dịch hoặc quy nạpvà được liên kết bằng các câu từ chuyển ý)

III. Kết bài:

- Tóm lược và khẳng định nội dung đã phân tích.

- Đánh giá chung những thành công và hạn chế về nội dung và nghệ thuật tác phẩm

C. CÁC ĐỀ BÀI THỰC HÀNH

ĐỀ 1 Trình bày cảm nhận của anh/chị về nhân vật A Phủ trong đoạn trích truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, sđd, tr.3).

                             -----------------------------------

GỢI Ý LÀM BÀI

I. Đặt vấn đề

- Giới thiệu tác giả Tô Hoài và đoạn trích truyện Vợ chồng A Phủ:

+ Tô Hoài để lại cho nền văn học nước nhà gần hai trăm đầu sách với nhiều thể loại khác nhau. Tác phẩm của Tô Hoài hấp dẫn người đọc nhờ vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng đất, khả năng quan sát tinh tường; nhờ lối trần thuật tự nhiên, hóm hỉnh của một người từng trải, sắc sảovốn ngôn ngữ đặc biệt phong phú...

+ Tập Truyện Tây Bắc (1953) là kết quả từ chuyến đi thực tế của Tô Hoài lên miền Tây Bắc. Thiên nhiên và con người nơi đây đã để lại trong tâm hồn nhà văn nhiều ấn tượng sâu sắc. Ông viết tập truyện ngắn này như để trả món nợ ân tình với miền đất ấy.

+ Vợ chồng A Phủ (1952) được coi là truyện ngắn thành công nhất của tập Truyện Tây Bắc. Tác phẩm xoay quanh số phận của Mị và A Phủ - hai con người đã phải nếm trải bao đau khổ, bất hạnh trong xã hội cũ. Nhân vật Mị tiêu biểu cho số phận cay cực, đau khổ và nguồn sức sống tiềm tàng trong tâm hồn người phụ nữ lao động miền cao.

- Nêu vị trí của nhân vật A Phủ.

II. Giải quyết vấn đề

Cần nêu được các ý cơ bản sau:

- Giống như Mị, A Phủ cũng có số phận nhiều khổ đau, bất hạnh:

+ Mổ côi từ nhỏ, A Phủ lưu lạc đến Hồng Ngài, không có người thân, gia đình, tài sản...

+ Đi chơi tết, chỉ vì đánh nhau với con quan làng mà A Phủ bị đánh đập, hành hạ dã man rồi bị biến thành nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra. Anh phải đảm đương hết các công việc nặng nhọc, nguy hiểm: “Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò ngoài rừng”... Kiếp sống nô lệ ấy không có thời hạn vì thống lí Pá Tra đã từng “tuyên án”: “tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế...”.

+ Sinh mệnh của A Phủ cũng hoàn toàn nằm trong tay thống lí. Vì để hổ tha mất một con bò, A Phủ đã bị trói đứng vào cột và sẽ chết nếu Mị không cứu... Cảnh tượng A Phủ phải tự chôn cột, lấy dây rồi đứng yên cho thống lí trói đã phơi bày hết nỗi khổ bị chà đạp, bị áp bức...

- A Phủ là hiện thân cho nhiều phẩm chất đẹp đẽ:

+ Cần cù, khéo léo trong lao động; hồn nhiên, lạc quan trong cuộc sống... Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng lớn lên, A Phủ vẫn biết làm mọi công việc của một người trai miền cao giỏi giang: “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”. Con gái trong làng nhiều người mê A Phủ. Họ bảo nhau: “đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu”... Ngày Tết, A Phủ không có quần áo mới “cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”...

+ Gan góc, táo bạo, giàu tinh thần phản kháng. Nét tính cách này được thể hiện qua hành động dám đánh lại con quan làng; qua cảnh tượng A Phủ bị đánh đập suốt đêm, cảnh tượng A Phủ bị trói đứng. Anh đã không thốt lên dù chỉ một lời kêu rên hay cầu khẩn - kể cả khi bị đày đọa đến gần chết trên cây cột trói người. Dẫu bị đè nén, áp bức và có lúc bị đẩy vào tình cảnh bất lực “như con trâu đã đóng lên tròng” nhưng A Phủ vẫn không để mất bản tính ngang tàng, không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực của một chàng trai miền núi dũng cảm, khao khát tự do...

- Nghệ thuật thể hiện: nhân vật chủ yếu được tác giả miêu tả với hành động nhằm làm bật lên tính cách mạnh mẽ, gan góc; kết hợp với lối trần thuật sinh động...

III. Kết thúc vấn đề

- Xây dựng nhân vật A Phủ, Tô Hoài đã tái hiện một cách chân thực số phận đau khổ của người lao động nghèo miền núi trước Cách mạng.

- Đồng thời, nhà văn đã khám phá, khẳng định những phẩm chất đẹp đẽ tiềm ẩn trong tâm hồn họ. Với khát vọng sống, khát vọng tự do mãnh liệt, A Phủ đã dám đứng lên chống lại cường quyền để tự cứu mình.

 

 

ĐỀ 2 : Phân tích giá trị nhân đạo độc đáo của đoạn trích truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài, Ngữ văn Tập hai, sđd, tr.3).

-----------------------------------

 

GỢI Ý LÀM BÀI

 

I. Đặt vấn đê

- Giới thiệu vị trí của Tô Hoài và cảm hứng sáng tác tập Truyện Tây Bắc (xem đề 1).

- Nhấn mạnh giá trị nhân đạo được thể hiện trong đoạn trích truyện Vợ chồng A Phủ.

 

II. Giải quyết vấn đề

Khi phân tích giá trị nhân đạo của đoạn trích truyện Vợ chồng A Phủ cần làm rõ các ý cơ bản sau:

 

1. Tiếng nói đồng cảm với thân phận cùng khổ của người lao động nghèo miền núi trước Cách mạng. Họ bị áp bức, đè nén trong đau khổ, bất hạnh triền miên, chồng chất:

- Cha mẹ Mị vay tiền của nhà thống lí từ khi cưới nhau, năm nào cũng phải trả lãi một nương ngô mà đến già vẫn chưa hết nợ...

- Mị - người con gái trẻ trung, tài hoa, tràn đầy sức sống đã bị đày đọa cả về thể chất lẫn tinh thần đến mức hóa thành chai sạn, đờ đẫn, vô cảm. Cứ mỗi lần sức sống trong cô trỗi dậy, cô lại bị vùi dập, chà đạp nhiều hơn...

- A Phủ - bị đánh đập, hành hạ, bị biến thành nô lệ, bị bắt trói đến gần chết...

 

2. Tiếng nói khẳng định, ngợi ca những vẻ đẹp tiểm ẩn trong tâm hồn người lao động miền Tây Bắc:

- Đó là nguồn sức sống tiềm tàng trong tâm hồn Mị được biểu hiện qua khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tinh thần phản kháng, lòng vị tha...

- Đó là bản tính ngang tàng, gan góc, táo bạo, khát vọng sống tự do ở A Phủ...

 

3. Nhận xét nghệ thuật thể hiện và rút ra nét mới mẻ trong cảm hứng nhân đạo của Tô Hoài.

Có thể so sánh phần kết của đoạn trích của truyện ngắn này với một số tác phẩm trước Cách mạng (Tắt đèn - Ngô Tất Tố; Lão Hạc, Chí Phèo (Nam Cao)...) để thấy nét mới trong cảm hứng nhân đạo của Tô Hoài.

III. Kết thúc vấn đề

Tác giả Vợ chồng A Phủ đã tiếp nối truyền thống nhân đạo của văn học giai đoạn trước. Đồng thời góp phán hình thành một “chủ nghĩa nhân đạo mới” trong văn học Cách mạng.

 

ĐỀ 3 : Cảm nhận của anh/chị về khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt trong truyện Vợ nhặt (Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, sđd, tr.23). Từ đó, nhận xét về giá trị nhân đạo mà nhà văn thể hiện qua nhân vật này.

                             ----------------------------------

GỢI Ý LÀM BÀI

I. Đặt vấn đề

 Tham khảo gợi ý sau:

- Kim Lân được mệnh danh là “nhà văn của đồng ruộng”, “một lòng đi, về với đất, với người”.

- Vợ nhặt là truyện ngắn thảnh công nhất của Kim Lân, được hoàn thành năm 1954. Bối cảnh nhà văn lựa chọn để dựng truyện là nạn đói khủng khiếp năm 1945. Trong nhiều cuộc trò chuyện, trao đổi về tác phẩm, ông đều tâm sự rằng mình viết vế cái đói để khẳng định mục đích này: Cái điểm sáng mà tôi đưa vào trong truyện là những suy nghĩ về nhân phẩm con người. Tôi chú ý: tuy trong cảnh nghèo đói nhưng con người ta vẫn giữ gìn đạo lí.

- Giới thiệu nhân vật người vợ nhặt.

II. Giải quyết vấn đề

Cảm nhận về khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt, cẩn nêu được các ý cơ bản sau:

- Khát vọng sống của nhân vật trước hết thể hiện ở khát vọng được sống qua nạn đói (qua việc người đàn bà bám víu vào câu hò của Tràng, gợi ý để đòi ăn; chấp nhận theo không Tràng...).

- Khát vọng về hạnh phúc gia đình, về tương lai (thể hiện qua hành động cùng mẹ chổng quét dọn nhà cửa; sự đúng mực, ý tứ trong bữa cơm ngày đói,...).

- Nghệ thuật thể hiện khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt.

 

2. Nhận xét về giá trị nhân đạo mà nhà văn thể hiện qua nhân vật người vợ nhặt:

Khát vọng sống của nhân vật người vợ nhặt thể hiện cái nhìn phát hiện, trân trọng của Kim Lân về phẩm chất tốt đẹp của người nông dân trong nạn đói: trong hoàn cảnh khốn cùng, người nông dân vẫn thể hiện được phẩm chất tốt đẹp. Đây cũng chính là biểu hiện quan trọng nhất của giá trị nhân đạo trong tác phẩm.

 

III. Kết thúc vấn đề

- Nhấn mạnh đóng góp quan trọng của nhân vật vào việc thể hiện tư tưởng của tác giả, chủ đề của tác phẩm.

- Thể hiện tấm lòng đồng cảm và trân trọng của Kim Lân dành cho những kiếp người nhỏ bé, cùng khổ.

 

ĐỀ 4 : Phân tích tình huống truyện độc đáo của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân, Ngữ văn 12,Tập hai, sđd, tr.23).

                             -----------------------------------

GỢI Ý LÀM BÀI

I. Đặt vấn đề

- Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt (tham khảo gợi ý ở đề 3).

- Trong truyện ngắn Vợ nhặt, tác giả đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn.

II. Giải quyết vấn đề

1. Giải thích ngắn gọn vai trò của tình huống trong truyện ngắn (Tình huống là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt nào đó khiến cho bức tranh cuộc sống và tư tưởng của tác giả được bộc lộ rõ nét nhất). Tình huống truyện cũng bao hàm các mối quan hệ giữa nhân vật và môi trường sống, giữa các nhân vật với nhau...

2. Phân tích tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân):

- Tình huống truyện lạ, bất ngờ:

+ Vì người như Tràng hội tụ đủ các điểu kiện để “ế vợ”: nghèo túng, dân ngụ cư, vẻ ngoài xấu xí, thô kệch; nay bỗng dưng lấy được vợ, thậm chí là vợ Theo không”.

+ Vì giữa thời buổi đói khổ cùng cực, người như Tràng nuôi thân chẳng nổi còn dám đèo bòng chuyện vợ con.

- Tình huống “nhặt vợ” giữa những ngày đói rét thê thảm vừa bất ngờ vừa éo le khiến cho tất cả những người chứng kiến đều ngạc nhiên, đều cảm thấy vui buồn trộn lẫn:

+ Những người dân xóm ngụ cư xôn xao khi thấy Tràng trở về cùng người đàn bà lạ. Họ tò mò, náo nức, quên cả cái đói. Những khuôn mặt hốc hác, u tối rạng rỡ hẳn lên: “Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống” của họ. Nhưng từ đám đông, có cả những lời xót xa, ái ngại: “Ôi chao! Giời đất này mà còn đi rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”.

+ Bà cụ Tứ - mẹ của Tràng cũng sửng sốt khi nhìn thấy “người đàn bà nào đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia”. Tràng phải giải thích cặn kẽ, tường tận, bà lão mới hiểu ra cơ sự. Dẫu “mừng lòng” vì con trai mình đã có vợ , bà cụ vẫn không nén được bao nỗi xót thương, buồn tủi, lo âu.

+ Ngay bản thân Tràng, cũng bàng hoàng khi nhìn cô vợ nhặt ngồi ngay giữa nhà “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”

- Tạo dựng tình huống truyện độc đáo ấy, Kim Lân không chỉ mang đến sức hấp dẫn cho cốt truyện mà còn bộc lộ được thân phận của những con người cùng khổ. Đó cũng là cái nền để nhà văn tô đậm những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn họ và phơi bày thực trạng xã hội đương thời:

+ Lên án, tố cáo thực dân, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945, khiến con người rơi vào thân phận rẻ mạt. Việc trăm năm của đời người mà rẻ rúng đến tội nghiệp. Cuộc hôn nhân không cưới hỏi, không có nổi mâm cơm cúng gia tiên, cả nhà còn phải ăn cháo cám.

+ Tiếng nói khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con người. Đó là tình mẹ thương con, tình người thương người - không tàn lụi kể cả khi con người bị đẩy đến bên bờ vực của cái chết. Bà cụ Tứ xót thương cho con trai; thương cho cả người con dâu “nhặt được”. Bà mở lòng, đón nhận người phụ nữ đói rách, xa lạ vào gia đình mình: “Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Anh nông dân nghèo khổ, lam lũ, thô kệch vẫn dành cho người vợ nhặt được tình cảm yêu thương chân thành, ấm áp.

+ Ngợi ca khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc tiềm ẩn trong tâm hồn người lao động. Ngay trong cảnh cùng khổ, Tràng vẫn khát khao có một tổ ấm; bà cụ Tứ vẫn tin ở sự sống và tương lai; người vợ nhặt cũng không buông xuôi, không tuyệt vọng.

III. Kết thúc vấn đề

Tình huống truyện độc đáo không chỉ mang lại sức cuốn hút cho câu chuyện mà còn thể hiện được tư tưởng nhân đạo của tác giả.

 

 

ĐỀ 5 : Khi trả lời phỏng vấn về cảm hứng sáng tác truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân tâm sự rằng: “Tôi viết về cái đói để khẳng định sự thật này: những người đói khổ “dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, hướng về ánh sáng, tin vào sự sống và vẫn hy vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người”

(Theo Hương Giang, Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt, Báo Văn nghệ số 19, ngày 8/5/1993, tr.5).

Anh/Chị hãy phân tích nhân vật Tràng trong truyện Vợ nhặt để làm rõ ý đồ sáng tác của tác giả.

                                         -----------------------------------

GỢI Ý LÀM BÀI

 

I. Đặt vấn đề

- Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt; nêu ý đồ sáng tác của tác giả; dẫn dắt vào nhân vật Tràng.

II.Giải quyết vấn đề

1. Câu chuyện nhặt vợ của Tràng được tác giả đặt trên nền một khung cảnh “tối sầm vì đói khát”:

- Người chết đói “nằm còng queo bền vệ đường”, người đói từ các vùng “lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”. Khắp nơi “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”...

2. Phải cảm nhận được cảnh đói khát cùng cực ấy mới thấy hết sự “liều lĩnh” trong hành động của Tràng:

- Anh nông dân nghèo khổ không khỏi cảm thấy “chợn” khi người đàn bà kia theo về: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng niềm khao khát hạnh phúc đã lấn át nỗi sợ, nỗi lo.

- Sự kiện “nhặt vợ” đã mang đến những đổi thay lớn trong con người Tràng. Có lẽ lần đầu tiên trong đời, anh con trai vụng về, thô kệch được biết đến cảm giác gắn bó, yêu thương một “người dưng”. Trên con đường đưa cô vợ nhặt về nhà, Tràng muốn nói một lời tình tứ để làm thân mà không nói được, chỉ biết lúng túng “tay nọ xoa vào vai kia”. Nhưng trong lòng Tràng trỗi dậy niềm vui sướng khiến anh ta “hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt. Lòng hắn bấy giờ chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng”...

- Cảm giác ngọt ngào, êm ái đó càng rõ nét hơn khi Tràng chứng kiến sự đổi thay trong ngôi nhà “dúm dó, xiêu vẹo” của mình vào buổi sáng hôm sau:

+ Nhìn chỗ nào, Tràng cũng thấy mới mẻ, khác lạ: “Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”.

+ Quan sát mẹ và vợ quét tước, dọn dẹp nhà cửa, Tràng bỗng thấy “thấm thìa cảm động”. Bởi vì, cảnh tượng thật bình thường, đơn giản ấy chính là “bằng chứng” cho một điều kì diệu: “Hắn đã có một gia đình”. Tràng bỗng thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn một cách lạ lùng vì bây giờ nó đã trở thành tổ ấm “Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây”. Tràng thực sự trưởng thành với ý thức về bổn phận của một người đàn ông trụ cột trong gia đình: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.

- Qua cách kể của Kim Lân, câu chuyện nhặt vợ tưởng là bi hài đã hóa thành khúc ca về sức sống mãnh liệt trong tâm hồn người lao động:

+ Ngay trong đói khổ cùng cực - khi người ta ngỡ chỉ còn nghĩ được đến miếng ăn, chỉ còn sống với nỗi lo âu về cái chết, thì Tràng vẫn khát khao được sống như một con người thực sự.

+ Khát vọng hạnh phúc bình dị mà tha thiết, mãnh liệt ấy khiến người đọc không hề bất ngờ khi ngồi bên mâm cơm ngày đói, Tràng chợt nghĩ đến những người đói đi phá kho thóc của Nhật. Đó cũng là hình ảnh nhà văn chọn để kết thúc tác phẩm: “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới...” Nó gieo vào lòng người đọc niềm tin rằng, trong dòng người “như nước vỡ bờ” của những ngày tháng Tám năm 1945, không thể không có Tràng.

III.Kết thúc vấn đề

- Xây dựng nhân vật Tràng, Kim Lân đã khẳng định, ngợi ca khát vọng hạnh phúc, niềm tin vào sự sống tiềm ẩn trong tâm hồn người lao động. Những phẩm chất quý giá đó là “điểm sáng” ngời lên ngay giữa cuộc sống tăm tối, cùng khổ.

- Kim Lân quả thực là nhà văn của những thuần hậu nguyên thủy“một lòng đi, về với đất với người”

TIẾT 70. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC :ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ

                                                        Hê-minh-uê

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả: Hê-minh-uê (1899 - 1961) là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Mĩ thế kỉ XX, nhận giải nô-ben văn học 1954

- 19t, tham gia lái xe cứu thương trong cttg lần thứ nhất -> Bị thương, trở về nước, thất vọng về XH đương thời.

- 1926, cho ra đời tt Mắt trời vẫn mọc và thực sự nổi tiếng trên văn đàn,

- Nổi tiếng với nguyên lí “tảng băng trôi”; với hoài bão viết “một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”.

- Để lại số lượng tác phẩm khá đồ sộ. Một số t/p tiêu biểu: Giã từ vũ khí, chuông nguyện hồn ai, ông già và biển cả…

2. Tác phẩm

   Ông già và biển cả (1952) ra mắt bạn đọc trước khi Hê - minh - uê được tặng giải thưởng Nô – ben về văn học năm 1954, là một kết tinh trong lối kể chuyện của Hê -Minh - Uê.

3. Đoạn trích: nằm gần ở cuối truyện, thuật lại việc ông lão Xan-ti-a-gô rượt đuổi và khuất phục được con cá kiếm.

II. Hướng dẫn đọc hiểu:

1. Hình ảnh những vòng lượn của con cá kiếm:

* Sự lặp lại những vòng lượn của con cá kiếm:

   - Vòng lượn gợi lên hình ảnh một ngư phủ lành nghề kiên cường: Chỉ bằng con mắt từng trải và cảm giác đau đớn nơi bàn tay, ông lão ước lượng được khoảng cách ngày càng gần tới đích qua vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần của con cá.

   - Vòng lượn vẽ lên những cố gắng cuối cùng nhưng cũng rất mãnh liệt của con cá:

       + Nó cố gắng thoát khỏi sự níu kéo, bủa vây của người ngư phủ.

       + Nó cũng dũng cảm, kiên cường không kém gì đối thủ.

   - Vòng lượn cũng biểu hiện cảm nhận của ông lão về con cá, tập trung vào hai giác quan là thị giác và xúc giác.

   2. Cảm nhận của ông lão về con cá kiếm:

   * Cảm nhận về con cá kiếm tập trung vào những giác quan của ông lão bằng thị giác, xúc giác. Cảm nhận qua xúc giác vẫn có phần gián tiếp (qua sợi dây, qua mũi lao) nhưng rất mãnh liệt và ngày càng đau đớn.

   * Cảm nhận về con cá kiếm gợi lên một sự tiếp nhận từ xa đến gần, từ bộ phận đến toàn thể:

       + “Một cái bóng đen vượt dài qua dưới con thuyền, đến mức lão không thể tin nổi độ dài của nó”.

       + “Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm”.

       + “Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng”.

       + Ông lão: “vận hết sức bình sinh... phóng xuống sườn con cá ngay sau cái vây ngực đồ sộ”.

       + Con cá “phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực”.

       + “Nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc của nó lên trời”.

3.  Hình ảnh con cá kiếm trước và sau khi ông lão chiếm được nó:

   - Khi chưa bị chế ngự: Nó có vẻ đẹp kì vĩ, kiêu hùng.

   → Biểu tượng cho ước mơ, lí tưởng mà mỗi người thường theo đuổi trong cuộc đời.

   - Khi bị chế ngự: Nó mất đi vẻ đẹp mơ hồ, lung linh, trở nên cụ thể hiện thực.

   → Biểu tượng cho ước mơ trở thành hiện thực, không còn khó nắm bắt hoặc xa vời.

   * Qua biểu tượng con cá kiếm gợi cho chúng ta bài học cần phải theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực.

4. Ý nghĩa văn bản: Cuộc hành trình đơn độc, nhọc nhằn của con nười vì một khát vọng lớn lao là minh chứng cho chân lí: “Con người có thể bị huỷ diệt những không thể bị đánh bại”.

TIẾT 71. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC:
HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT

(Trích - Lưu Quang Vũ)

 

I .Tìm hiểu chung

1. Tác giả:

-Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một tài năng đa dạng nhưng kịch là phần đóng góp đặc sắc nhất. Ông được coi là một trong những hiện tượng đặc biệt của sân khấu, một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học Việt Nam hiện đại.

2. Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt:

+ Vở kịch được Lưu Quang Vũ viết vào năm 1981, được công diễn vào năm 1984.

+ Từ một cốt truyện dân gian, tác giả đã xây dựng thành một vở kịch nói hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.

3. Đoạn trích: Là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng "bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo", nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thoát ra khỏi nghịch cảnh trớ trêu.

II. Đọc- hiểu văn bản

1. Nội dung

a.  Cuộc đối thoại giữa hồn trương Ba và xác anh hàng thịt:

- Do sự vô tâm và tắc trách của Nam Tào, Trương Ba phải chết một cách vô lí, Nam Tào sửa sai bằng cách cho hồn Trương Ba sống nhờ thể xác anh hàng thịt.

- Linh hồn nhân hậu, trong sạch, bản tính thẳng thắn của Trương Ba dần dần bị xác thịt thô phàm của anh hàng thịt sai khiến, bị nhiễm độc.

- Ý thức được điều đó, linh hồn Trương Ba dằn vặt, đau khổ: "- Không. Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi!”

- Hồn Trương Ba quyết định chống lại bằng cách tách khỏi xác để tồn tại độc lập, không còn bị lệ thuộc.

- Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba ở vào thế đuối lí, bất lợi

-Ý nghĩa của đoạn đối thoại:

+Trương Ba được trả lại cuộc sống nhưng lại là một cuộc sống đáng hổ thẹn vì phải sống chung với sự dung tục và bị sự dung tục đồng hoá.

+Tác giả cảnh báo: khi con người phải sống trong dung tục thì tất yếu sẽ bị dung tục ngự trị, lấn át và sẽ tàn phá những gì trong sạch, đẹp đẽ, cao quý trong con người.

 b. Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba với những người thân:

- Vợ Trương Ba:

+ buồn bã, đau khổ vì: "ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa".

+ đòi bỏ đi, nhường Trương Ba cho vợ anh hàng thịt.

- Con dâu Trương Ba:

+ thấu hiểu cho hoàn cảnh trớ trêu của bố chồng: Chị biết ông "khổ hơn xưa nhiều lắm".

+ Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình khiến chị không thể chịu được: "Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng …  mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần…"

- Cháu gái Trương Ba: phản ứng quyết liệt và dữ dội

+ Nó khước từ tình thân: “tôi không phải là cháu ông… Ông nội tôi chết rồi”.

+ Nó không thể chấp nhận con người đã làm "gãy tiệt cái chồi non", "giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm" trong mảnh vườn của ông nội nó.

+ Nó hận vì ông đã làm gãy nát cái diều khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền.

+ Với nó, "Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy". Nó xua đuổi quyết liệt: "Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!".

à Người chồng, người cha, người ông trong sạch, nhân hậu trước đây đã và đang thành một kẻ khác, với những thói hư tật xấu của một tên đồ tể thô lỗ, phàm tục.

- Tâm trạng, cảm xúc của Trương Ba:

+ Ông đau khổ, tuyệt vọng khi vì ông mà tất cả những người thân phải đau đớn, bàng hoàng, bế tắc, vì ông mà nhà cửa tan hoang.

+ Ông thẫn thờ, ôm đầu bế tắc, cầu cứu cháu gái, run rẩy trong trong nỗi đau, …

+ Đặt những câu hỏi mang tính tự vấn:

+ Khẳng định dứt khoát:

à Trương Ba cũng nhận thấy những thay đổi của mình nên đấu tranh quyết liệt để giành giật lại bản thân mình, dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích.

c. Cuộc đối thoại của Trương Ba với Đế Thích

- Hồn TB không chấp nhận cảnh sống bên trong một đằng, một ngoài một nẻo. Ông muốn được sống theo đúng bản chất của mình: “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

- Đế Thích khuyên Hồn Trương Ba nên chấp nhận. Hồn Trương Ba kiên quyết chối từ và kêu gọi Đế Thích sửa sai bằng việc làm cho cu Tị sống lại.

- Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của Hồn trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng:

+ Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn… +Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!.

·        Ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời thoại này.

+ Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.

+ Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng chênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.

+ Quyết định dứt khoát của nhân vật Hồn Trương Ba xin Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống và thấy rõ "bao nhiêu sự rắc rối" vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến Hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống.

·        Qua màn đối thoại, ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo, bảo vệ quyền được sống toàn vẹn, tự nhiên. Đó chính là chất thơ trong kịch của Lưu Quang Vũ

 

d. Đoạn kết

 - Lời cuối cùng của Trương Ba: “Tôi vẫn ở đây”. Cái chết không phải là sự ra đi vĩnh viễn. Con người sẽ bất tử với những điều tốt đẹp họ đóng góp cho cuộc đời, sẽ sống mãi trong tâm hồn những người thân yêu. Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời

- Hành động của cái Gái vùi những hạt na xuống đất: Cái chết là điều tự nhiên, cuộc sống vẫn tiếp tục với những thế hệ thay nhau mà lớn khôn.

-Kết thúc vở kịch, Hồn Trương Ba chấp nhận cái chết, môt cái chết làm sáng bừng lên nhân cách đẹp đẽ của Trương Ba, thể hiện sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp và sự sống đích thực

- Màn kết với chất thơ sâu lắng đã đem lại âm hưởng thanh thoát cho một bi kịch lạc quan và  truyền đi thông điệp về sự chiến thắng của sự sống đích thực, của chân, thiện, mĩ.

 

2. Nghệ thuật : 

- Sáng tạo cốt truyện dân gian

- Nghệ thuật dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm.

- Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, góp phần phát triển tình huống,…

 

3. Ý nghĩa văn bản:

Một trong những điều quý giá nhất của mỗi con người là được sống là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình có và theo đuổi. Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống trong sự hài hòa tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn.

 


 

                                                     -------------------------------------

 

 

 

 

 

 

ĐỀ 3: Dựa vào cuộc đối thoại giữa nhân vật Hồn Trương Ba và nhân vật Đế Thích trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, Tập hai, sđd, tr.148 - 152) để chứng minh rằng, tác giả đã gửi vào lớp kịch này nhiều vấn để mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.

HƯỚNG DẪN LÀM ĐỀ 3:

I. Đặt vấn đề

- Giới thiệu tác giả Lưu Quang Vũ và vị trí của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt.

- Nhiều vấn đê có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc đã được tác giả gửi gắm vào cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích.

II. Giải quyết vấn đề

Tham khảo gợi ý sau:

- Sau cuộc đối thoại với Xác hàng thịt và với những người thân, Hồn Trương Ba đã ý thức hết những hậu quả nặng nề, đau đớn của kiếp sống chắp vá “Hồn nọ, xác kia”:

+ Kiếp sống ấy đẩy con người vào tình trạng sống day dứt, tủi nhục, đau khổ và khiến linh Hồn bị tha hóa.

+ Kiếp sống chắp vá, giả dối còn khiến cho tất cả những người thân của Hồn Trương Ba đều phải gánh chịu nỗi đau khổ, bất hạnh ; đẩy gia đình ông vào nguy cơ tan nát.

- Hồn Trương Ba gọi Đế Thích xuống trần gian đòi trả lại xác cho anh hàng thịt. Ông không muốn tiếp tục cuộc sống vay mượn, chắp vá “hồn nọ xác kia” tủi nhục và đau đớn này nữa! Đế Thích khuyên Hồn Trương Ba hãy chấp nhận để được sống“dưới đất trên trời đều thế cả, nữa là ông” - đến Ngọc Hoàng cũng chẳng phải bao giờ cũng được là mình! Hồn Trương Ba kiên quyết chối từ: “Nếu ông không giúp tôi, tôi sẽ... tôi sẽ... nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ...” Đế Thích lại muốn duy trì sự sống cho Hồn Trương Ba bằng cách để ông nhập vào xác cu Tị nhưng Trương Ba đã nhìn thấy trước bao điều vô lí, bao nhiêu phiền hà rắc rối sẽ đến với mình, với gia đình mình. Và điều đáng sợ hơn là kiếp sống lẻ loi, lạc lõng trong thân xác một đứa trẻ, đáng ghét: “như một kẻ tham lam, một kẻ lí ra phải chết từ lâu mà vẫn cứ sống, cứ trẻ khỏe, cứ ngang nhiên hưởng thụ mọi lộc trời”.

- Hồn Trương Ba đã lựa chọn dứt khoát con đường của riêng mình: trả lại thân xác hàng thịt, đổi mạng sống của mình cho cu Tị. Ông không chấp nhận nhập vào bất kì thân xác nào nữa vì: “không thể sống bằng bất cứ giá nào được... sống thế này còn khổ hơn là cái chết”. Hồn Trương Ba không muốn những người thân của ông phải đau khổ. Ông muốn dùng chính cái chết của mình để cứu vãn đứa con trai đang sa chân vào con đường tội lỗi và giữ cho đứa cháu gái hình ảnh người ông nội mà nó yêu quý.

- Đoạn kết của vở kịch chứa đựng những bi kịch của hiện thực khắc nghiệt: con người đáng sống như Trương Ba lại phải chết; vợ Trương Ba phải một lần nữa trải qua nỗi đau mất chồng. Nhưng linh hồn của Trương Ba - người làm vườn nhân hậu, người đánh cờ thanh cao vẫn sống “trong ánh lửa nấu cơm... trong vườn cây...trong những điểu tốt lành của cuộc đời... trong mỗi trái cây...”. Bằng sự lựa chọn dũng cảm của mình, Trương Ba đã gìn giữ được những kỉ niệm tốt lành, đã giữ cho các thế hệ sau niềm tin vào con người, cuộc sống. Hình ảnh hai đứa trẻ gắn bó, yêu thương và hạt na cái Gái vùi vào đất cho cây xanh “nối nhau mà lớn khôn” như lời ông nội dạy chính là niềm hi vọng, niềm tin mãnh liệt cuả tác giả vào những “điều không thể mất” trên cõi đời này.

III. Kết thúc vấn đề

- Cuộc đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích chứa đựng nhiều vấn đề thiết yếu và cấp bách của cuộc sống hiện đại. Tác giả đã “trình bày” những vấn đề ấy bằng xung đột, mâu thuẫn chồng chất lên nhau: hồn và xác, con người và hoàn cảnh sống, lòng ham sống và ý thức về nỗi nhục của cuộc sống vay mượn.

- Lưu Quang Vũ đã gửi vào sự lựa chọn của Hồn Trương Ba những trăn trở, day dứt và cả niềm tin mãnh liệt về con người, cuộc đời...

                                      -------------------------------------

 

 

Các tin khác
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HKI - 2020-2021 21/12/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HKI-2020-2021 18/12/2020
MA TRẬN KIỂM TRA GIỮA KÌ NĂM HỌC 2020-2021 24/10/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020-VIỆT BẮC 15/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020-TÂY TIẾN 15/06/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HỌC KÌ II 06/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020- BÀI ĐẤT NƯỚC (NGUYỄN KHOA ĐIỀM) 03/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020- BÀI SÓNG (XUÂN QUỲNH) 03/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI THPTQG 2020 - BÀI NLĐSĐ & AĐĐTCDS 28/05/2020
ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VỢ NHẶT 24/05/2020
ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VCAP 24/05/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 27 19/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 26 19/04/2020
ĐỀ THAM KHẢO VĂN 12-1920-VCAP 03/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 24 29/03/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12, KI DO NGHỈ DICH COVID-19 .docx 24/02/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12- TUẦN 23- NH 19-20 16/02/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 12- TUẦN 21- 22- NH19-20 08/02/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12- HKI- NH 2019-2020 12/12/2019
ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN KTHKII- VĂN 12- NH 18-19 05/05/2019
Open the calendar popup.
 
Bản quyền Trường THPT Lê Quý Đôn
Địa chỉ: 152 Trần Dư, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam    Điện thoại: 0235.3851248
Website: thpt-lequydon.edu.vn
Đơn vị phát triển: Trung tâm CNTT - Truyền thông Quảng Nam (QTI)