Mode:     
27 Tháng Giêng 2021
   VỀ ISCHOOLNET
   Login  
Hướng dẫn tự học khối 12 Minimize
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12, KI DO NGHỈ DICH COVID-19 .docx
Cập nhật bởi: v_vtkl - Vào ngày: 24/02/2020 4:10:12 CH - Số lượt xem: 751

   UBND TỈNH QUẢNG NAM

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HƯỚNG DẪN TỰ ÔN TẬP KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

NGỮ VĂN 12

 

                                         BÀI 1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

-         Hồ Chí Minh

I. TÌM HIỂU CHUNG

1/ Tác giả: Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

- Là nhà yêu nước, nhà CM vĩ đại, là anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và là nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào Quốc tế cộng sản và là danh nhân văn hóa thế giới.

- Quan điểm sáng tác: Người coi văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ; Người coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học; khi cầm bút, người luôn xuất phát từ đối tượng tiếp nhận và mục đích sáng tác để định ra nội dung và hình thức tác phẩm.

- Phong cách nghệ thuật: độc đáo và đa dạng, mỗi thể loại văn học đều có phong cách riêng.

2/ Tác phẩm:

a/ Hoàn cảnh ra đời:

- Sau nhiều năm chống Pháp đuổi Nhật, ngày 19/8/1945 chính quyền Hà Nội thuộc về tay nhân dân. Ngày 26/8/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Người soạn thảo TNĐL.

- Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập,khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới độc lập, tự do.

b/ Đối tượng, mục đích:

- Đối tượng: Đồng bào cả nước, nhân dân thế giới, các thế lực thù địch (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Anh )

- Mục đích:Tuyên bố nền độc lập của dân tộc, bác bỏ luận điệu xâm lược của kẻ thù.

c/ Giá trị của tác phẩm:

- Về lịch sử:TNĐL là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên mới độc lập  tự do dân tộc.

- Về văn học:TNĐL là bài văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục.

- Về tư tưởng:TNĐL là áng văn tâm huyết, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh - kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM:

1/ Nội dung:

a/ Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc

- Trích dẫn 2 bản tuyên ngôn “Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ” (1776), “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp” (1791) nhằm đề cao những giá trị của tư tưởng nhân đạo và văn minh nhân loại, tạo tiền đề cho những lập luận tiếp theo.

- Lập luận sáng tạo:Từ quyền bình bình đẳng, tự do của con người, tác giả suy rộng ra về

quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc.

- Ý nghĩa: Khẳng định vị thế bình đẳng của dân tộc, cảnh cáo âm mưu xâm lược của kẻ thù bằng chiến thuật “gậy ông đập lưng ông”.

→ Với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn, nêu cao chính nghĩa của ta, đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc, thể hiện tư tưởng cao đẹp của Người

b/ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định sức mạnh của dân tộc

- Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:

            + Phản bội và chà đạp lên nguyên lý mà tổ tiên họ xây dựng.

            + Tội cướp nước ta: lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng nhưng thực chất cướp nước, áp bức đồng bào ta, trái với nhân đạo và chính nghĩa.

            @ Về chính trị: Tước quyền tự do, chia cắt đất nước để cai trị, tàn sát nhân dân.

            @ Về kinh tế: Bóc lột dã man các tầng lớp nhân dân.

            + Tội bán nước ta hai lần cho Nhật: Phản bội đồng minh, không đáp ứng liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật, thậm chí thẳng tay khủng bố, giết nốt tù chính trị ở Yên  Bái, Cao Bằng.

à Vạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo man rợ của thực dân Pháp bằng lí lẽ và sự thật lịch sử không thể chối cãi (sự thật có sức mạnh lớn lao, bác bỏ luận điệu “khai hóa”, “bảo bộ” Pháp.

- Khẳng đinh sức mạnh dân tộc: Thực tế lịch sử là nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VN Dân chủ Cộng hòa; sức mạnh của truyền thống khoan hồng nhân đạo, của tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc...

c/ Tuyên bố độc lập

- Tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ với Pháp (thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp tại Việt Nam)

- Kêu gọi toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp, kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của Việt Nam.

- Khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

2/ Nghệ thuật: TNĐL là một áng văn chính luận mẫu mực

- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục.

- Ngôn ngữ vừa chính xác, vừa gợi cảm.

- Giọng văn linh hoạt

3/ Ý nghĩa văn bản:

- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.

- TNĐL kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do .

III. BÀI TẬP VẬN DỤNG

1/ Hãy phân tích việc nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập.

2/ Hãy phân tích việc tố cáo tội ác của kẻ thù và khẳng định sức mạnh dân tộc của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập.

3/ Hãy chứng minh rằng: Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một văn kiện lịch sử mà còn là áng văn chính luận mẫu mực.

 

BÀI 2. TÂY TIẾN

-         Quang Dũng

 

I. TÌM HIỂU CHUNG:

1/ Tác giả: Quang Dũng (1921 – 1988)

- Là một nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một nghệ sĩ đa tài, là nhà thơ của “xứ Đoài mây trắng”.

- Thành công khi viết về người lính.

- Hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, hào hoa.

2/ Tác phẩm:

- “Tây Tiến” là đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng địch ở Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ VN. Địa bàn hoạt động khá rộng (Châu Mai, Châu Mộc - Sầm Nứa - Thanh Hóa). Lính Tây Tiến phần đông là sinh viện, học sinh Hà Nội, Quang Dũng là đại đội trưởng.

- Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, bồi hồi nhớ lại đồng đội, Quang Dũng sáng tác bài thơ tại Phù Lưu Chanh. Ban đầu có tên “Nhớ Tây Tiến”, sau đổi thành “Tây Tiến”.

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1/ Nội dung

a/ Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc và hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân.

Khơi nguồn cảm xúc từ dòng sông Mã, trong cảm xúc “nhớ chơi vơi” về một thời Tây Tiến, kỉ niệm chợt ùa về...

- Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt đầy bí hiểm: địa danh xa lạ gợi những vùng đất xa xôi, bí ẩn; Khí hậu khắc nghiệt cùng sương giăng mây phủ; địa hình hiểm trở với dốc núi, cồn mây trùng điệp; rừng thiêng nước độc với tiếng thác gầm thét, cọp trêu ngươi...

- Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc thơ mộng, trữ tình (cảnh sương lấp, hoa về; cảnh đêm liên hoan rực rỡ, lung linh và ấm áp tình người; cảnh thiên nhiên sông nước miền tây một chiều sương giăng hư ảo..)

- Hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân: gian khổ, hi sinh mà vẫn ngang tàng, tâm hồn vẫn trẻ trung, lãng mạn (phải đối mặt với gian lao, thử thách, chấp nhận hi sinh; vẫn tinh nghịch trẻ trung; vẫn rung động trước cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng)

            * Với cách dùng từ độc đáo (từ láy, từ cảm thán, từ địa danh..), phép điệp từ, phép đối, nghệ thuật nhân hóa, liệt kê, nhịp điệu dồn dập, sử dụng thanh điệu mới lạ..., tác giả đã phác họa bức tranh thiên nhiên và người lính Tây Tiến thật sống động.

b/ Chân dung người lính Tây Tiến

Trong nỗi “nhớ chơi vơi” về một thời gian khổ mà hào hùng, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên thật đẹp.

- Vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng:

+ Ngoại hình bi thương nhưng không bi lụy (không mọc tóc, quân xanh màu lá)

+ Tinh thần hiên ngang bất khuất: tư thế oai phong lẫm liệt, ý chí chiến đấu kiên cường, khát vọng giết giặc cao cả (dữ oai hùm, mắt trừng...)

+ Tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh là tinh thần của con người thời đại: người lính sẵn sàng làm mồ viễn xứ, chẳng tiếc đời xanh, về đất... (Lưu ý thái độ của tác giả khi nói về cái chết - tư thế sẵn sàng, chết là hóa thân, là về cùng và mãi trường tồn với quê hương đất nước...)

- Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn: tâm hồn người lính trẻ luôn rộng mở, những trí thức trẻ Hà Nội vẫn lạc quan, yêu đời, luôn mơ mộng (gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm...)

àVẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng của người lính đã lấn át cái bi thương mà chiến tranh khắc nghiệt mang lại. Vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn đã nâng bổng tâm hồn người lính vượt lên những thử thách nghiệt ngã, cả cái chết. Tất cả làm nên một vẻ đẹp bi tráng của người lính chống Pháp một thời.

* Với một khung ngôn từ đặc sắc, nhiều từ Hán Việt được sử dụng, âm hưởng đoạn thơ trầm hùng...Quang Dũng đã phác họa chân dung người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa trong niềm tự hào và nỗi nhớ da diết, bâng khuâng.

2. Nghệ thuật:

- Cảm hứng và bút pháp lãng mạn.

- Cách sử dụng ngôn từ đặc sắc: Các từ chỉ địa danh, từ tượng hình, từ Hán Việt,…

- Kết hợp chất nhạc và chất họa.

3. Ý nghĩa văn bản:

- Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ luôn đồng hành trong trái tim và trí óc mỗi chúng ta.

III. BÀI TẬP VẬN DỤNG:

1/ Trình bày ngắn gọn về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

2/ Cảm nhận của anh/chị về thiên nhiên Tây Bắc qua đoạn thơ đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

               Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

               Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

               Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

               Mường Lát hoa về trong đêm hơi

               Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

               Heo hút cồn mây súng ngửi trời

               Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

               Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

               Anh bạn dãi dầu không bước nữa

               Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

               Chiều chiều oai linh thác gầm thét

               Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

               Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

               Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

                                            (“Tây Tiến” – Quang Dũng)

 

2/ Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

                                                (“Tây Tiến” – Quang Dũng)

3/ Cảm nhận về vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến đoạn thơ sau:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

                                    (“Tây Tiến”– Quang Dũng)

 

                                   BÀI 3. VIỆT BẮC

    (Trích)

                     – Tố Hữu

I. TÌM HIỂU CHUNG

1/ Tác giả: Tố Hữu (1920 – 2002)

- Là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống.

2/ Tác phẩm:

a/ Hoàn cảnh sáng tác:

Bài thơ được ra đời vào tháng 10 năm 1954 (nhân sự kiện người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô). Chính hoàn cảnh sáng tác đã chi phối tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt đầy xúc động, bâng khuâng da diết trong bài thơ. Cách chọn kết cấu theo lối đối đáp cũng là để thể hiện sắc thái đó.

b/ Vị trí đoạn tích:

Bài thơ gồm có 2 phần:

+ Phần 1: Tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.

+ Phần 2: Gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc.

 Đoạn trích trong SGK là phần đầu của bài thơ, tái hiện những kỉ niệm về cách mạng và kháng chiến.

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1/ Nội dung

a) Tám câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người

* Bốn câu đầu: Lời ướm hỏi, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình; qua đó thể hiện tâm trạng của người ở lại.

+ Người ở lại luôn có cảm giác mất mát, bị lãng quên.

+ Cách xưng hô “mình, ta”, lối đối đáp quen thuộc gần gũi trong ca dao, dân ca là phương thức giãi bày cảm xúc của tác giả.

+ Câu hỏi tu từ thể hiện lời nhắn nhủ của người ở lại với người ra đi về thời gian mười lăm năm kháng chiến đồng cam cộng khổ, chia bùi sẻ ngọt để tình cảm gắn bó thiết tha mặn nồng; về không gian cội nguồn, tình nghĩa cây – núi, sông – nguồn..., nơi người chiến sĩ đã chia bùi sẻ ngọt cùng động đội trong những năm kháng chiến.

àViệt Bắc đã thành cội nguồn cách mạng, lời người ở lại nhắc nhở người về xuôi về tình cảm son sắt thuỷ chung, nghĩa tình kháng chiến, được khơi dậy từ nguồn mạch đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

* Bốn câu thơ tiếp: Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến.

+ Cảm xúc vừa lưu luyến nhớ thương, vừa nôn nao mong đợi của người ở lại và người về xuôi được thể hiện qua các từ láy (tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn)

+ Hình ảnh  hoán dụ“Áo chàm…phân ly”, hình ảnh giàu sức biểu cảm “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” thể hiện nỗi lưu luyến, bịn rịn đến bối rối, nghẹn ngào.

b) Tám mươi hai câu sau: Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm.

*Mười hai câu hỏi: Gợi lên những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua, khơi gợi, nhắc nhở những kỉ niệm trong những năm cách mạng và kháng chiến. Việt Bắc từng là chiến khu an toàn, nhân dân ân tình, thủy chung, hết lòng với cách mạng và kháng chiến.

Điệp khúc “mình đi , mình về”, câu hỏi tu từ, điệp từ “nhớ”gợi ấn tượng về việc chia xa bằng việc nhắc lại những kỷ niệm của một thời không thể nào quên:

-  Thiên nhiên khắc nghiệt (mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù)

- Cuộc sống kháng chiến khó khăn, thiếu thốn nhưng lòng người son sắc thủy chung (miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai,...đậm đà lòng son)

- Thiên nhiên trống vắng, nhớ nhung người về xuôi, người ở lại nhắc nhớ những người trong cuộc về một chiến khu an toàn, về nghĩa tình kháng chiến (trám bùi để rụng, măng mai để già/Tân Trào Hồng Thái...)

* Bảy mươi câu đáp: Mượn lời đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết với Việt Bắc; qua đó, dựng lên hình ảnh chiến khu trong kháng chiến anh hùng và tình nghĩa thủy chung. Nội dung chủ đạo là nỗi nhớ Việt Bắc, những kỉ niệm về Việt Bắc.

- Bốn câu đầu đoạn:  khẳng định tình nghĩa thủy chung son sắt, tình cảm gắn bó bền vững của tamình được thể hiện qua phép đói xứng (ta với mình/mình với ta), điệp từ (ta, mình), từ láy (mặn mà, đinh ninh và sự chuyển hóa đa nghĩa của từ ta vàmình...).

- Hai mươi tám câu tiếp: Nói về nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và con người, cuộc sống kháng chiến

+ Nhớ cảnh Việt Bắc da diết, khắc khoải qua nghệ thuật so sánh (như nhớ người yêu); cảnh đẹp thơ mộng ở nhiều thời khắc qua phép liệt kê (trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương...); vẻ đẹp đa dạng, sống động (rừng nứa bờ tre, ngòi, sông, suối..); thiên nhiên ấm áp tình người (Sớm khuya bếp lửa nguwoif thương đi về). Nỗi nhớ luôn dào dạt, dâng trào, “vơi đầy” như con nước...

+ Nhớ người Việt Bắc: Nỗi nhớ gắn với nghĩa tình, lòng biết ơn sâu sắc trong tình đồng đội keo sơn gắn bó (thương nhau chia củ sắn lùi/Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng); với người mẹ Việt Bắc vất vả, giàu lòng thương con và thủy chung son sắc với cách mạng (Nhớ người mẹ...bắp ngô); nhớ lớp học bình dân, nhớ những ngày làm việc gian nan mà lạc quan yêu đời, nhớ những âm thanh bình dị của cuộc sống nơi chiến khu Việt Bắc (tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối đều đều suối xa)

+ Nhớ cảnh và người Việt Bắc: cảnh và người đồng hiện, xoắn xuýt trong nỗi nhớ, người đi hỏi nhưng chỉ là cái cớ để giãi bày cảm xúc (Ta về mình có hớ ta/Ta về ta nhớ những hoa cùng người):

      @ Thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp bốn mùa qua nét bút miêu tả đặc sắc: mùa đông tươi tắn - ấm áp, mùa xuân trong sáng - tinh khôi, mùa hạ sôi động - oi nồng, mùa thu dịu mát – yên bình (đông – hoa chuối đỏ tươi/xuân – mơ nở trắng rừng/hạ - ve kêu, rừng phách đổ vàng/thu – trăng rọi hòa bình.). Bức tranh tứ bình về thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ và niềm tự hào của người về xuôi.

      @ Con người Việt Bắc với vẻ đẹp hoang sơ, khỏe khoắn. Họ xuất hiện dưới ánh nắng mặt trời, luôn cần mẫn, tài hoa, họ đẹp trong lao động, đẹp cả tâm hồn (người tiều phu, người đan nón, cô gái hái măng, tiếng hát ân tình thủy chung). Tất cả hiện lên trong niềm tự hào, biết ơn và ngưỡng mộ sâu xa của tác giả.

- Hai mươi hai câu tiếp  nói về cuộc kháng chiến anh hùng

+ Thiên nhiên cùng đánh giặc với con người (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây/ Núi giăng.../ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù..)

+ Nhắc những địa danh và những chiến công liên tiếp, vang dội của quân ta trong niềm tự hào và nỗi nhớ không nguôi.

+ Cảnh Việc Bắc ra quân:

          @ Những con đường hành quân trong đêm và sức mạnh, khí thế ngút trời của quân dân ta, tinh thần đoàn kết nhất trí của quân và dân thể hiện qua việc sử dụng từ láy (rầm rập, điệp điệp, trùng trùng), nghệ thuật so sánh, hình ảnh giàu sức biểu cảm..Tất cả làm nên sức mạnh để chiến thắng.

          @ Niềm vui chiến thắng lan tỏa, dồn dập, vang dội theo bước chân của người chiến sĩ qua cách nói cường điệu (Tin vui chiến thắng trăm miền), phép liệt kê (các địa danh Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê..)

- Mười sáu câu cuối đoạn thể hiện nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc, những kỉ niệm về cuộc kháng chiến

+Việt Bắc quê hương cách  mạng, có Đảng và Bác Hồ.

+ Những công việc của chính phủ.

+ Đồng nhất Việt Bắc với Bác Hồ - Người về gửi qua nỗi nhớ: lòng  biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với Việt Bắc và Bác Hồ.

2/ Nghệ thuật

Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: Thể thơ lục bát, lối đối đáp, cách xưng hô mình – ta; hình thức tiểu đối của ca dao; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân; sử dụng nhuần nhuyển phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian.

3/ Ý nghĩa văn bản

Việt Bắc là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về  nghĩa tình cách mạng và kháng chiến mà cội nguồn sâu xa là tình yêu đất nước, niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thuỷ chung của dân tộc.

III. BÀI TẬP VẬN DỤNG:

            1/ Cảm nhận về cái hay cái đẹp của các câu thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

                                                          Mình đi, có nhớ những ngày

 Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

                                           Mình về, có nhớ chiến khu

   Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

                                           Mình về, rừng núi nhớ ai

                                     Trám bùi để rụng măng mai để già

                                            Mình đi, có nhớ những nhà

                                    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son.

2/ Cảm nhận về vẻ đẹp của cảnh và người Vệt Bắc qua đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

 

     Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

     Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưnG

     Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

     Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

3/

      Mình về mình có nhớ ta

                                            Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

                 Mình về mình có nhớ không

                                         Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

                                      Tiếng ai tha thiết bên cồn

                              Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

    Áo chàm đưa buổi phân li

                               Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...”

(Trích Việt Bắc- Tố Hữu, SGK Ngữ văn 12, tập 1)

Cảm nhận về tâm trạng kẻ ở-người đi qua đoạn thơ trên. Từ đó rút ra nhận xét về tính dân tộc trong đoạn thơ.

 

 

                                             BÀI 4.  ĐẤT NƯỚC

(Trích trường ca Mặt đường khát vọng)

                                                                               - Nguyễn Khoa Điềm

I. TÌM HIỂU CHUNG

1/ Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (1943)

- Thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

- Thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư, xúc cảm dồn nén, giọng thơ trữ tình - chính luận

2/ Tác phẩm: 

- Trường ca Mặt đường khát vọng được viết ở  chiến khu Trị -Thiên 1971, in lần đầu vào năm 1974.  Đây là giai đoạn gay go, quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ.Tác phẩm viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhip với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược.

- Đoạn trích Đất Nước là phần đầu của chương V, thể hiện tư tưởng: “Đất Nước của Nhân dân”.

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1/ Nội dung

a/ Phần 1: Nêu lên cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của Đất Nước; từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, Đất Nước.

- Cội nguồn của Đất Nước: Đất Nước được hình thành từ những gì nhỏ bé, gần gũi, riêng tư trong cuộc sống của mỗi người.

+ Đất Nước có từ lâu đời.

+ Sự hiện diện của Đất Nước: Đất Nước có trong những vật dụng thường ngày, trong câu chuyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”, Đất Nước gắn với thuần phong mỹ tục (miếng trầu bà ăn, búi tóc của mẹ), chuyện trồng tre đánh giặc ngoại xâm, tình nghĩa sâu đậm, truyền thống lao động cần cù của nhân dân...

Tác giả đã vận dụng sáng tạo các yếu tố văn hóa dân gianàĐất Nước là sự kết hợp giữa các mặt vật chất và tinh thần, được cảm nhận từ chiều sâu lịch sử và văn hóa.

- Đất nước là sự hòa quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc.

+ Đất Nước được cảm nhận từ góc độ không gian - địa lý:

       @ Đất Nước không chỉ là nơi trú ngụ của mỗi người mà là không gian rộng lớn, giàu đẹp của cộng đồng (Đất là nơi anh đến trường/là nơi em tắm/là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc/là nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi..); là không gian kỉ niệm của đôi lứa yêu nhau, của tình yêu say đắm (Đất Nước là nơi ta hò hẹn/là nơi em đánh rơi chiếc khăn...)

      @ Đất nước cũng chính là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ: Từ quá khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau)

+ Đất Nước được cảm nhận ở góc độ thời gian - lịch sử:

            @ Đất nước được cảm nhận suốt chiều dài của thời gian: từ quá khứ đến hiện tại và tương lai; từ niềm tự hào về cội nguồn dân tộc (Lạc Long Quân và Âu cơ) và lòng hướng vọng cội nguồn  (Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ),

                 @ Đất nước là sự hài hoà trong nhiều mối quan hệ: Cá nhân với cá nhân (“Khi hai đứa cầm tay nhau - Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm); cá nhân với cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người - Đất Nước vẹn tròn to lớn”); Đất Nước có trong mỗi người (Đất Nước là máu xương của mình..)

      @ Nhắc nhở về trách nhiệm của mỗi thế hệ Việt Nam đối với Đất Nước (Những ai đã khuất/ Những ai bây giờ/Yêu nhau và sinh con đẻ cái/ Gánh vác phần người đi trước để lại/ Dặn dò con cháu.../Mai này con ta lớn lên/ Con sẽ mang Đất Nước đi xa.../Phải biết  gắn bó và san sẻ/Phải biết hóa thân...) 

à Đất Nước được nhìn ở nhiều chiều, nhiều góc độ nên gần gũi và sâu sắc. Đất Nước gắn

với mỗi số phận, mỗi cuộc đời và cộng đồng dân tộc, tồn tại cùng những truyền thống tốt

đẹp của dân tộc nên mãi mãi trường tồn.

b/ Phần 2:Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện qua ba chiều cảm nhận về đất nước.

- Từ không gian địa lý:

+ Tác giả cảm nhận Đất Nước qua những danh lam thắng cảnh gắn với cuộc sống, tính cách và số phận của nhân dân; tình nghĩa thuỷ chung thắm thiết (núi Vọng Phu, hòn Trống Mái); truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm (gót ngựa Thánh Gióng, đất Tổ Hùng Vương); truyền thống hiếu học (núi Bút, non Nghiên); hình ảnh đất nước tươi đẹp qua cách nhìn dân dã, tinh nghịch về con cóc, con gà, Hòn chồng Hòn Vợ)

            + Bảo tồn di sản văn hóa tinh thần gắn với quê cha, đất tổ: Truyền giọng nói cho con, gắn bó với quê hương qua tên đất, tên làng và đặt tên vùng đất mới để nhớ ơn người có công đầu trong việc di dân lập nghiệp

à Đất nước ẩn chứa vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân vừa gần gũi vừa thiêng liêng, đúc kết bao công sức và khát vọng của nhân dân.

-Từ thời gian lịch sử: nhân dân là người làm nên những truyền thống tốt đep

+ Truyền thống xây dựng và bảo vệ Đất Nước (Năm tháng nào cũng người người lớp lớp…/Cần cù làm lụng/khi có giặc người con trai ra trận/Người con gái trở về…/Ngày giặc đến nhà…).

+ Truyền thống anh hùng hữu danh và anh hùng vô danh (Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ/có biết bao người…/không ai biết mặt đặt tên/Nhưng họ đã làm nên Đất Nước.

+ Truyền thống văn hóa nông nghiệp, văn hóa giọng nói, văn hóa làng xã...

- Từ bản sắc văn hóa: Kết tinh qua ca dao- thần thoại, là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn, tình cảm của nhân dân với những nét đẹp truyền thống tiêu biểu như niềm say đắm trong tình yêu (Yêu em từ thuở trong nôi), lối sống quý trọng tình nghĩa (Biết quý công cầm vàng...) ; ý chí chiến đấu quyết liệt với kẻ thù(Biết trồng tre đợi ...)

à Sự phát hiện thú vị và độc đáo của tác giả về Đất Nước trên các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá với nhiều ý nghĩa mới - Muôn vàn vẻ đẹp của Đất Nước đều là kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những con người vô danh, bình dị.

2/ Nghệ thuật

- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: Ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi.

- Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt.

- Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.

3/ Ý nghĩa văn bản

Đoạn trích là cách cảm nhận mới về Đất Nước, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.

 III. BÀI TẬP VẬN DỤNG

1/ Đoạn thơ có sử dụng nhiều chất liệu của văn học dân gian. Hãy nêu một số ví dụ cụ thể và nhận xét về cách sử dụng chất liệu dân gian của tác giả?

2/Phân tích cảm hứng về Đất Nước trong trong đoạn thơ sau:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa..." mẹ thường hay kể
 Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
 Đất Nước lớn lên khi dân mình biết tròng tre mà đánh giặc
 Tóc mẹ thì bới sau đầu
 Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
 Cái kèo, cái cột thành tên
 Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
 Đất Nước có từ ngày đó...

 (Trích  chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”-Nguyễn Khoa Điềm). 

Từ đó, nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của nhà thơ.

 

3/

 Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Những em biết không

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm

Không ai nhớ mặt đặt tên

Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.

            (Trích  chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”- Nguyễn Khoa Điềm). 

Cảm nhận tư tưởng “Đất Nước của Nhân dântrong  đoạn thơ trên. Từ đó nhận xét về chất sử thi trong sáng tác của nhà thơ.

 

 

 

                                              BÀI 5. SÓNG

                                                                -  Xuân Quỳnh

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả: Xuân Quỳnh (1942 – 1988)

- Là một trong số nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là người có cuộc đời bất hạnh, luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

- Đặc điểm thơ Xuân Quỳnh: tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khao khát hạnh phúc đời thường, bình dị; nhiều lo âu, day dứt, trăn trở trong tình yêu.

2/ Tác phẩm:

a/ Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết tại biển Diêm Điền (Thái Bình) năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” (1968)

b/ Đề tài và chủ đề:

- Đề tài: tình yêu.

- Chủ đề: Mượn hình tượng sóng để diễn tả tình yêu của người phụ nữ, sóng là ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ đang yêu – một hình ảnh đẹp và xác đáng.

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1/ Nội dung

a.      Sóng và em – những nét tương đồng

- Những cung bậc phong phú, trạng thái đối cực đầy nghịch lí (khổ 1,2): trạng thái tồn tại của sóng hay trạng thái tâm lí của người con gái đang yêu luôn đồng hiện được thể hiện qua nghệ thuật liệt kê, sử dụng các tính từ, từ nối đặc sắc (Dữ dội và diệu êm / Ồn ào và lặng lẽ); là niềm bồi hồi, thao thức trong tim người con gái khi yêu và những khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì nhỏ hẹp, chật chội, tầm thường, (Sông.../ Sóng tìm ra tận bể/ Ôi con sóng ngày xưa/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ?)

- Những bí ẩn kì diệu (khổ 3,4): là những băn khoăn, trăn trở truy tìm cội nguồn của tình yêu (Trước muôn trùng sóng bể/ Em nghĩ về anh em/ Em nghĩ về biển lớn...); là những câu hỏi muôn đời không lời đáp. Âu đó là những bí ẩn kì diệu của tình yêu để nhân loại mãi tìm kiếm và mãi mãi phát hiện về nhau (Sóng bắt đầu từ gió/ Gió bắt đầu từ đau/ Em cùng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau).

- Nỗi nhớ da diết (khổ 5): nỗi nhớ bờ của con sóng thật da diết, thường trực qua nghệ thuật điệp từ ngữ (con sóng), sử dụng từ ngữ chỉ vị trí và không gian (dưới lòng sâu/ trên mặt nước), thời gian (ngày đêm không ngủ được); nỗi nhớ người yêu của người con gái mãnh liệt, cồn cào, triền miên không dứt, trong ý thức và cả trong tiềm thức (... Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức). Chính nỗi nhớ là thước đo độ sâu đậm của tình yêu.

-  Lòng thủy chung  son sắt (khổ 6,7): người con gái định hướng trong tình yêu đẫu mất phương hướng trong không gian (Dẫu xuôi về phương bắc/ Dẫu ngược về phương nam/ Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh một phương); là niềm tin bất diệt, là sự kiên định vượt qua mọi trở lực trong tình yêu (như con sóng ngoài đại dương Con nào chẳng tới bờ/ Dù muôn vời cách trở?)

b/ Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu (khổ 8, 9)

- Thể hiện những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời bằng việc đặt cái hữu hạn trong cái vô hạn để thấm thía được rằng cuộc đời ngắn ngủi, hạnh phúc mỏng manh ( Cuộc đời dài/ Năm tháng đi qua, biển rộng/ mây bay) 

- Khát vọng tình yêu bất tử, muôn đời được thể hiện qua câu hỏi tu từ (Làm sao...?); là nỗi khao khát cháy bỏng được tồn tại mãnh liệt với tình yêu qua hình ảnh của con sóng vỗ bờ ngàn năm (Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ).

→ Hình tượng sóng ẩn dụ cho tâm hồn người con gái đang yêu cho thấy tình yêu chân thành, tha thiết, đắm say của Xuân Quỳnh – một Xuân Quỳnh vừa tinh tế, sâu sắc, vừa táo bạo mạnh mẽ, say đắm. Chính điều này làm nên vẻ đẹp hài hòa của một tình yêu vừa truyền thống vừa hiện đại, tạo nên sức hấp dẫn cho bài thơ.

2. Nghệ thuật:

- Thể thơ năm chữ truyền thống; cách ngắt nhịp theo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.

- Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

3. Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

III. BÀI TẬP VẬN DỤNG

1. Cảm nhận của em về hình tượng sóng qua bài thơ.

2. Cảm nhận anh/chị về 2 khổ thơ sau:

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Ðể ngàn năm còn vỗ

3. Trong hai khổ thơ đầu của bài thơ “Sóng”, nhân vật trữ tình soi vào sóng để tự nhận thức về tình yêu:

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

  Đến hai khổ thơ cuối, tình yêu tan vào sóng để dâng hiến và bất tử:

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ

Cảm nhận của em về vẻ đẹp tình yêu trong các khổ thơ trên. Từ đó, rút ra nhận xét về sự vận động của hình tượng sóng và em.

 

 

 

BÀI 6.  NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

(Trích)

                                                     - Nguyễn Tuân

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả: Nguyễn Tuân (1910-1987)

- Là nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi VN hiện đại trước và sau cách mạng Tháng tám.

- Là người tài hoa, uyên bác, sáng tác thành công ở thể loại bút kí.

2. Tác phẩm

a/ Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ: Người lái đò Sông Đà  rút từ tập tùy bút Sông Đà (1960) – kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc của Nguyễn Tuân.

b/ Thể loại: Bút kí

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Nội dung

a. Hình tượng con sông Đà:

 Sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân hiệ lên như một nhân vật có hai tính cách trái ngược:

- Sông Đà hung bạo, dữ dằn

            + Bờ sông được miêu tả với những cảnh đá dựng vách thành, những đoạn đá chẹt lòng sông như cái yết hầu, có chỗ con nai con hổ có thể vọt qua, nhẹ tay bên này ném hòn đá qua bên kia...

            + Ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số, với cảnh nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm..., cảnh va đập dữ dội, liên hồi thật ghê rợn được thể hiện qua nghệ thuật điệp khúc liên hoàn, lối ngắt nhịp, hình ảnh sống động...

+ Nước sông Đà dữ dằn được miêu tả sống động với hình ảnh so sánh, nhân hóa đặc sắc gợi nhiều liên tưởng (cái hút nước như những cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu, nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc), với âm thanh sống động của nước (ặc ặc như rót dầu sôi vào), gợi cảm giác của người vượt qua những chỗ nước xoáy... Những cái hút nước đáng sợ sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào...

+ Thác sông Đà hùng vĩ được miêu tả từ xa tới gần, từ âm thanh đến hình ảnh (khi thì oán trách, lúc giọng gằn mà chế nhạo, lúc thì rống lên như tiếng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu....; lòng sông toàn đá với những thạch thủy trận, đá mai phục ở đây hàng ngàn năm sẵn sàng giao chiến với người lái đò... Trùng vi thạch trận được tác giả miêu tả tỉ mỉ bằng các vòng vây, các tuyến phòng thủ của đá và nước....

à Nguyễn Tuân là bậc kì tài trong lĩnh vực sử dụng ngôn từ. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, với lượng kiến thức phong phú của nhiều lĩnh vực và nghệ thuật miêu tả so sánh, nhân hóa đặc sắc, Sông Đà như một con thủy quái khổng lồ dữ dằn, hung bạo, đáng sợ. Con sông Đà hung bạo là biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước.

- Sông Đà thơ mộng, trữ tình

+ Dòng chảy sông Đà uốn lượn mềm mại được thể hiện qua nghệ thuật so sánh đặc sắc (từ máy bay nhìn xuống sông Đà như chiếc dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình; như áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở  hoa ban hoa gạo tháng hai và khói Mèo đốt nương xuân...)

+ Màu sắc của nước sông thay đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng (Mùa xuân dòng xanh ngọc bích..., mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ...- lưu ý hình ảnh so sánh.

+ Cảnh vật hai bên bờ sông Đà vừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích, vừa trù phú tràn trề nhựa sống (Trên bờ, những đám ngô non mới nhú, một đàn hưu cúi đầu gặm cỏ trên đám cỏ tranh đẫm sương đêm...)

+ Sông Đà qua cảm nhận của tác giả: nắng cũng giòn tan và cái sắc Đường thi Yên hoa tam nguyệt; cảm giác đặc biệt khi gặp sông Đà (như gặp lại cố nhân, bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích

à Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu tha thiết với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Tác giả đã thể hiện sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.

b/ Hình tượng ông lái đò

 Ông lái đò là nhân vật tiêu biểu cho người lao động đang từng ngày từng giờ làm việc, xây dựng cuộc sống mới, xây dựng quê hương đất nước.

- Trong cuộc chiến không cân sức, ông lái đò là vị chỉ huy cái thuyền sáu bơi chèo trong cuộc chiến với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc ( sóng, nước, đá, gió...). Bằng trí dũng tuyệt vời và phong thái ung dung, tài hoa, người lái đò đã nắm lấy bờm sóng, vượt qua trận thủy chiến ác liệt, ba lần phá vòng vây của thủy trận, thạch trận để thuần phục dòng sông.

- Ông lái đò nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn; bình tĩnh và hùng dũng ngay cả lúc đã bị thương.

- Nguyên nhân làm nên chiến thắng: sự ngoan cường, dũng cảm, tài trí, chí quyết tâm và nhất là kinh nghiệm sông nước.

à Hình ảnh ông lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đã tìm được nhân vật mới: những con người đáng trân trọng, ngợi ca, không thuộc tầng lớp đài các vang bóng một thời  mà là những người lao động bình thường - chất vàng mười của Tây Bắc. Qua đây, nhà văn muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày.

2. Nghệ thuật

- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và thú vị.

- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.

- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình…

3. Ý nghĩa văn bản

Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc, thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.

III. BÀI TẬP VẬN DỤNG

1. Trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã có những lần miêu tả bờ Sông Đà.

Ở thượng nguồn: “Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thànhchẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đang đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.

Ở hạ nguồn: “Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Líđời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhúlên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

Cảm nhận của em về hình ảnh Sông Đà trong hai đoạn văn trên, từ đó làm nổi bật cái tôi tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân.

2. Tùy bút “Sông Đà” là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà nhà văn Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi thực tế gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi của Tổ quốc. Nơi đây, ông đã khám phá ra chất vàng của thiên nhiên cùng “thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của những người lao động. Em hãy phân tích hình tượng ông lái đò để làm rõ điều đó.

3. Em hãy phân tích nhân vật người lái đò trong đoạn trích tùy bút “Người lái đò sông Đà”của Nguyễn Tuân. Từ đó liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn “Chữ người tử từ” để thấy sự thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận và khám phá con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945.

 

BÀI 7. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích )

                                            - Hoàng Phủ Ngọc Tường

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường (1943)

- Là một trí thức yêu nước, nhà văn gắn bó mật thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực.

- Chuyên viết về bút kí, là “một trong mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc).

- Đặc điểm phong cách: sáng tác luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tinh, nghị luận sắc bén và tư duy đa chiều với lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa.

2. Tác phẩm

- Được viết tại Huế tháng 1/1981), in trong tập kí cùng tên.

- Vị trí đoạn trích: Bài kí gồm 3 phần, đoạn trích nằm ở phần thứ nhất của bài kí.

II. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Nội dung

a.  Thủy trình sông Hương

            Vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên của sông Hương được miêu tả theo thủy trình từ thượng nguồn đến hạ lưu của sông Hương. Mỗi một đoạn đường, sông Hương đều mang vẻ đẹp riêng biệt, đặc sắc.

- Ở thượng nguồn: sông Hương mang vẻ đẹp hoang dại, mạnh mẽ đầy cá tính được thể hiện qua nghệ thuật so sánh độc đáo (là bản trường ca của rừng gìa, cô gái Di gan phóng khoáng và man dại, người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở...). Vẻ đẹp ấy còn được thể hiện qua hàng loạt các động từ mạnh, cấu trúc câu đặc biệt (rầm rộ...., mãnh liệt..., cuộn xoáy, dịu dàng và say đắm...

- Ở ngoại vi thành phố:

            + Sông Hương có vẻ đẹp quyến rũ qua nghệ thuật so sánh đặc sắc (như người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại)

             + Dòng chảy: chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm. (Từ ngã ba Tuần, chảy theo hướng Nam - Bắc qua Hòn Chén, chuyển hướng sang Tây - Bắc vòng qua Nguyệt Biển, Lương Quán, rồi đột ngột rẽ 1 hình cung thật tròn về phía đồng bằng ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về  Huế, như 1 cuộc tìm kiếm có ý thức để đi gặp thành phố tương lai của nó. Sông Hương mang vẻ đẹp trong câu chuyện tình lãng mạn nhuốm màu cổ tích; dòng chảy mềm như tấm lụa làm nên vẻ đẹp mềm mại, uyển chuyển...

            + Màu sắc phản quang từ sông Hương lên nền trời phía tây nam thành phố: sáng xanh – trưa vàng – chiều tím.

            + Sông Hương mang vẻ đẹp trầm tích khi đi qua những đồi thông, những lăng tẩm đền đài, thành quách – nơi yên nghỉ của các vị vua chúa phong kiến xưa...

- Sông Hương đến giữa thành phố Huế.

            + Sông Hương như tìm được chính mình, mang vẻ đẹp quyến rũ đầy nữ tính (tươi vui hẳn lên, mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.

            + Những chi lưu – những nhánh sông đào tỏa đi khắp phố thị khiến cho Huế vốn là một thành phố hiện đại thêm vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc (những cây đa cây cừa tỏa bóng, những xóm thuyền chài xúm xít, những ánh đèn lung linh....

            + Vẻ đẹp tinh tế của sông Hương từ điệu chảy chậm lặng lờ (cơ hồ là mặt hồ yên tĩnh, là điệu Slow dành riêng cho Huế..; như người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya...)

            + Muôn ngàn ánh hoa đăng lung linh từ điện Hòn Chén trôi về, chao nhẹ, phân vân như những vấn vương của một nỗi lòng...

- Trước khi từ biệt Huế

+ Sông Hương giống như “người tình dịu dàng và chung thủy”.

+ Con sông như lưu luyến, chí tình với thành phố Huế, như nàng Kiều trong đêm tình tự trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước lúc đi xa.

b/ Sông Hương – dòng sông của lịch sử và thi ca

- Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc (là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng, mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc những thế kỷ trung đại. Thế kỷ XVIII, soi bóng Kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ; sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX, và sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển.)

- Trong đời thường, sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của “một người con gái dịu dàng của đất nước”. Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế, màn sương khói trên Sông Hương và màu áo lục điều - sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng.

- Trong nghệ thuật, sông Hương là dòng sông thi ca,“Không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ” ( trong thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Tố Hữu…) Với âm nhạc, sông Hương là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điển của Huế, là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều.

→ Vẻ đẹp của sông Hương được nhìn từ góc độ văn hóa, lịch sủ và thi ca, làm sáng rõ vẻ đẹp của độc đáo của con sông thuộc về một thành phố duy nhất. Điều đó thể hiện tầm hiểu biết, tài năng và tình yêu của tác giả dành cho Huế.

c/ Vẻ đẹp của sông Hương qua cái tôi của tác giả

- Ưu thế của thể tùy bút: từ con sông trong thực tế, nhà văn để cho mạch cảm xúc tuôn chảy, ngòi bút tự do thể hiện phong cách nghệ thuật riêng Tình yêu thiết tha đến say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi xứ Huế đã thăng hoa trên ngọn bút.

- Điểm nhìn trần thuật đặc sắc, nhiều chiều: theo chiều dài con sông, chiều dài lịch sử, chiều sâu văn hóa và sự gắn bó với dòng sông quê hương.

2. Nghệ thuật

- Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa.

- Ngôn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm; câu văn giàu nhạc điệu.

- Các biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, so sánh được sử dụng một cách có hiệu quả

3. Ý nghĩa văn bản

- Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương.

- Bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương.

III. BÀI TẬP VẬN DỤNG

1. “Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Digan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.”

Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

2. Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vịnh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người nơi đây; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ…”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.

Cảm nhận vẻ đẹp của Sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó liên hệ với đoạn văn tả vẻ đẹp Sông Đà trong tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân):Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Để nhận xét cảm xúc khi viết về dòng sông của mỗi nhà văn.

3. Có ý kiến cho rằng:“Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa giàu chất trí tuệ, uyên bác, tài hoa lại vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”.Anh/chị hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường để làm rõ nhận định trên. /.

 

                               ………………………………………………..

 

 

 

 

Các tin khác
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HKI - 2020-2021 21/12/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HKI-2020-2021 18/12/2020
MA TRẬN KIỂM TRA GIỮA KÌ NĂM HỌC 2020-2021 24/10/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020-VIỆT BẮC 15/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020-TÂY TIẾN 15/06/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HỌC KÌ II 06/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020- BÀI ĐẤT NƯỚC (NGUYỄN KHOA ĐIỀM) 03/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI TỐT NGHIỆP THPT 2020- BÀI SÓNG (XUÂN QUỲNH) 03/06/2020
ĐỀ THAM KHẢO THI THPTQG 2020 - BÀI NLĐSĐ & AĐĐTCDS 28/05/2020
ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VỢ NHẶT 24/05/2020
ĐỀ THAM KHẢO ÔN THI TNTHPT VĂN 12-1920-VCAP 24/05/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 27 19/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 26 19/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 25 13/04/2020
ĐỀ THAM KHẢO VĂN 12-1920-VCAP 03/04/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 12-TUẦN 24 29/03/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12- TUẦN 23- NH 19-20 16/02/2020
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 12- TUẦN 21- 22- NH19-20 08/02/2020
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 12- HKI- NH 2019-2020 12/12/2019
ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN KTHKII- VĂN 12- NH 18-19 05/05/2019
Open the calendar popup.
 
Bản quyền Trường THPT Lê Quý Đôn
Địa chỉ: 152 Trần Dư, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam    Điện thoại: 0235.3851248
Website: thpt-lequydon.edu.vn
Đơn vị phát triển: Trung tâm CNTT - Truyền thông Quảng Nam (QTI)