ĐẤT NƯỚC của Nguyễn Đinh Thi

 

 

1. Bài thơ Đất nước được tạo thành từ hai đoạn trong các bài Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948)Đêm mít tinh (1949) của tác giả, đă đăng tạp chí Văn nghệ thời kháng chiến chống Pháp, và được bổ sung bằng các đoạn thơ viết năm 1955, sau kháng chiến thắng lợi. Nhưng không nên xem đất nước là một sự “ghép nối” đơn giản các đoạn thơ được sáng tác trong những thời điểm khác nhau, mà thực sự đây là sự tái tạo các đoạn thơ từ hai bài thơ “tiền thân” vào trong một chỉnh thể nghệ thuật mới, có sự thống nhất của tư tưởng - cảm xúc trong mạch vận động riêng biệt của nó. V́ thế, người đọc vẫn cảm nhận bài Đất nước như một tác phẩm liền mạch, hoàn chỉnh. Cố nhiên cũng có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt ở các phần, trong thể thơ, nhịp điệu, xúc cảm và giọng điệu. Nhưng chính điều đó lại tạo ra cho bài Đất nước một sự vận động của cảm hứng và tư tưởng vừa nhất quán vừa biến đổi, và đó cũng là một trong những đặc sắc của thi phẩm này.

2. Nằm trong mạch thi cảm về đất nước của cả một thời thơ kháng chiến, Nguyễn Đ́nh Thi đă có những sáng tạo riêng trong bài Đất nước. Thi tứ của bài thơ không xoay quanh một h́nh tượng trung tâm có ư nghĩa biểu tượng, cũng không hẳn là những suy tưởng mang tính khái quát về đất nước, mà là một sự tổng hợp, đan dệt của những cảm xúc, ấn tượng trực tiếp, vụ thể với những suy tư tổng hợp, khái quát, trong những h́nh ảnh thơ vừa cụ thể, gợi cảm vừa giàu tính biểu tượng, tượng trưng.

Bài thơ bắt đầu bằng những xúc cảm, cảm giác tinh tế đầy ấn tượng về buổi sáng mùa thu của đất trời, gợi lại những hoài niệm về mùa thu năm xưa, từ đó dẫn vào những xúc cảm và suy tư về mùa thu mới của đất nước sau Cách mạng, và niềm tự hào làm chủ đất nước tươi đẹp với sức sống bền bỉ tự ngàn năm. Tiếp đó là những cảm xúc và suy tư về đất nước trong cuộc chiến tranh chống Pháp, một đất nước thật hiền ḥa, đầy đau thương nhưng bất khuất, anh hùng.

Sự vận động của tư tưởng - cảm xúc ấy được thể hiện thành công trong sự chuyển biến của nhịp điệu, của âm hưởng bài thơ qua các đoạn. Có thể cảm nhận bài thơ này như một bản nhạc lớn, ở khúc đầu là nhịp chậm với những âm cao và trong, rồi trầm xuống khi lắng nghe cái luồng sống bất diệt của đất nước “đêm đêm ŕ rầm trong tiếng đất” ; sang phần sau, điệu thơ rắn chắc trong các khổ thơ thể bảy chữ xen sáu chữ, với nhịp điệu ngày càng dồn dập, cuộn sôi, tuông chảy như một ḍng sông lớn để đi tới cái kết thúc trong một h́nh ảnh hào sáng và những âm thanh như vỡ tung ra của khổ thơ cuối cùng :

“Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng ḷa”.

 

3. Khởi đầu bài thơ là những cảm giác trong một sáng mùa thu :

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

Cái ấn tượng về một sáng thu trong mát được gợi ra bằng những thanh âm thật trong trẻo, nhẹ và cao. Bầu trời trong xanh, làm gió nhẹ và thoảng trong gió là mùi hương cốm mới - một hương vị hết sức đặc biệt của mùa thu Việt Nam, nói đúng hơn, là mùa thu ở xứ Bắc Hương cốm thơm dịu nhẹ, trong trẻo, thanh khiết như kết tinh tất cả hương vị của đất trời, cây cỏ mùa thu. Hương cốm mới cũng rất đặc trưng cho mùa thu Hà Nội. Thạch Lam, một nhà văn rất Hà Nội, trong cuốn Hà Nội 36 phố phường của ông, đă có những ḍng rất trân trọng về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu, như sau: “phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ (...) là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ”. Từ hương cốm mới mà hoài niệm về mua thu Hà Nội, Nguyễn đ́nh Thi phải là người đă gắn bó sâu nặng và tha thiết với Hà Nội. Vào những ngày mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, khi phải xa Hà Nội đi kháng chiến, Nguyễn Đ́nh Thi đă có Bài hát của người Hà Nội, bản nhạc gợi lên bao h́nh ảnh thân thương và những nỗi niềm sâu lắng về Hà Nội. Các bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa và Đêm mít tinh đều được viết trong nỗi nhớ da diết, quặn thắt về Hà Nội c̣n trong vùng giặc chiếm.

Những câu thơ về mùa thu Hà Nội là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ. Hà Nội hiện ra qua hoài niệm của nhà thơ thật đẹp, đầy gợi cảm nhưng cũng phảng phất buồn và vắng. Ở đây ta cảm nhận được những rung động hết sức tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm. Cái lạnh của mùa thu mới chỉ là chớm lạnh, trong làn hơi may làm những hàng cây xao xác, các đường phố Hà Nội như dài thêm ra trong không gian mùa thu.

Mạch thơ dường như đột ngột chuyển từ cảnh thiên nhiên sang h́nh ảnh “Người ra đi” : một bức tranh với các h́nh khối, màu sắc và ánh sáng nổi đậm, rất ấn tượng :

“Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”

Về hai câu thơ trên, đă có nhiều cách hiểu và phân tích khác nhau, thậm chí trái ngược. Điều này cũng không có ǵ là lạc. Không hiếm những câu thơ hay gợi nhiều cách hiểu khác nhau, và cũng nhiều khi chỉ có thể cảm thấy cái hay mà không thể giải thích rơ ràng ra được, hoặc cũng không nhất thiết cứ phải giải thích. Cảm thụ thơ nhiều khi và trước hết là cần đến sự trực cảm để nhập vào toàn bộ câu thơ, bài thơ, một sự cảm nhận mang tính toàn vẹn, nguyên khối. Vả chăng, trong thơ như người xưa từng nói, có cái khả giải mà cũng c̣n có cái bất khả giải. “Người ra đi” ở đây là ai ? Có người đă cho rằng câu thơ này nói về những chiến sĩ trung đoàn Thủ đô giă từ Hà Nội vào đầu năm 1947, sau hai tháng chiến đấu anh dũng cầm chân giặc Pháp trong ḷng Hà Nội. Việc gán cho câu thơ ột nội dung sự kiện lịch sử cụ thể như thế chẳng những là khiên cưỡng mà c̣n thể hiện một cách cảm và hiểu thơ quá “thật thà” đến máy móc ! Vậy “Người ra đi” là người giă từ Hà Nội đi vào cuộc kháng chiến, hay là đi vào Cách mạng ? Không thể lư giải ư nghĩa của cây này, h́nh ảnh này tác rời văn cảnh của cả đoạn thơ. Hăy chú ư đến các từ gợi ư niệm một thời gian quá khứ đă xa (năm xưa, những ngày thu đă xa) và h́nh ảnh mùa thu hà Nội trong hoài niệm đặt trong sự đối lập với mùa thu nay - mùa thu của đất nước sau Cách mạng, ở đoạn thơ tiếp theo. Cũng nên nhớ rằng h́nh ảnh “Người ra đi” này mới chỉ xuất hiện trong bài Đất nước, c̣n trong “tiền thân” của những câu thơ này (ở Sáng mát trong như sáng năm xưa) th́ chỉ có khung cảnh vắng vể mà không có h́nh ảnh con người : “Nắng soi ngơ vắng ! Thềm cũ lối ra đi ! Lá rụng đầy “. (Một h́nh ảnh buồn vắng mà vẫn đẹp của Hà Nội trong vùng giặc chiếm). Dù hiểu thế nào đi nữa về “Người ra đi”, th́ cái ấn tượng mà chúng ta cảm nhận được trong câu thơ này vẫn là cái dứt khoát của một sự lựa chọn, một cuộc ra đi v́ nghĩa lớn, nhưng kẻ ra đi đâu phải là không vương vấn, lưu luyến với Hà Nội, với bao nhiêu thứ nữa của một quăng đời ḿnh. Nếu câu trên : “Người ra đi đầu không ngoảnh lại” có cái cốt cách “trượng phu” mạnh mẽ dứt khoát như một trang sĩ (Tráng sĩ nhất khứ bất phục hoàn), th́ sự lưu luyến lại hàm chứa trong âm điệu bâng khuâng của câu sau cùng với những h́nh ảnh ngoại cảnh của một Hà Nội thật đẹp mà buồn vắng : “Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”, lớp lớp lá rơi đầy trên thềm vắng, rực vàng trong ánh nắng thu. Có người đă nhận xét đây là “cái buồn của một sự đoạn tuyệt lặng lẽ tự chủ” (Vũ Quần Phương. Thơ với lời b́nh. NXB Giáo dục, 1990 - tr 87). Đoạn đầu (gồm 7 ḍng thơ) của bài Đất nước được sáng tạo bằng một hồn thơ thật tinh tế, nhạy cảm và một ng̣i bút tài hoa, đầy màu sắc ấn tượng.

 

Từ hoài niệm về mùa thu năm xưa Hà Nội, tác giả quay lại với mùa thu hiện tại của đất nước, trong khung cảnh rộng lớn của chiến khu Việt Bắc. Câu thơ chuyển hẳn về nhịp điệu : những câu thơ ngắn với nhịp nhanh, rộn ràng, với các vần liên tiếp rồi/đôi/phới/ mới trong bốn câu thơ liền nhau mà nổi lên là hai vần trắc ở hai câu sau (phấp phới, áo mới). Đoạn thơ mở ra một không gian rộng răi với những cảnh sắc trong trẻo, tươi sáng, sinh động (gió thổi, rừng tre phấp phới, trời thu thay áo mới, trong biếc, nói cười), ḥa với tâm trạng vui, nao nức, phấn chấn của con người trong khung cảnh mùa thu mới của đất nước, trong buổi sáng mùa thu, không gian như cũng xa rộng hơn bởi làn không khí nhẹ và khô, bầu trời như trong và cao xanh hơn. Cả đất trời như mới mẻ tinh khôi (Trời thu thay áo mới) và trong không gian mùa thu đang ngân lên những âm thanh rộn ràng, trong trẻo, cái tiếng thu đă hơn một lần được các thi sĩ cảm nghe tinh tế (“Em không nghe mùa thu” - Lưu Trọng Lư; “Thu đến nơi nơi động tiếng huyền” - Xuân Diệu), nhưng không c̣n là tiếng thu buồn muôn thuở mà là tiếng náo nức, rạo rực, rộn ràng của một mùa thu mới của đất nước.

 

Đến đây, mạch thơ nhập vào đoạn giữa của bài Đêm mitting một cách khá tự nhiên : Từ cảm xúc về mùa thu dẫn đến những t́nh cảm mến yêu, tự hào về đất nước và những suy tưởng về mạch sống bền bỉ vĩnh hằng của Tổ chức và dân tộc qua hàng ngàn đời.

 

Tiếng nói trữ t́nh cũng chuyển từ tư thế phát ngôn của cá nhân (“tôi nhớ”, “tôi đứng vui”) ở trên sang tiếng nói của “chúng ta”. Nhưng có điều lạ là sự chuyển đổi ấy đột ngột mà rất tự nhiên, như không thể nào khác được. Những câu thơ này là kế tục ḍng cảm hứng lớn đă trở thành một truyền thống của thơ ca dân tộc ; ḷng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc. Nhưng nó cũng in đậm dấu ấn tinh thần của thời đại mới được mở ra từ cuộc Cách mạng tháng Tám, đó là tinh thần yêu nước mang tính dân chủ sâu rộng. Những câu khẳng định với các từ chỉ (dây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dơng dạc niềm tự hào làm chủ đất nước. Ư thơ đi từ sự khẳng định đất nước qua những cái hữu h́nh trong không gian trước tầm mắt phóng xa (trời xanh, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, ḍng sông) mang ư nghĩa bao quát về sự rộng lớn và tươi đẹp của đất nước, đi đến sự cảm nhận vái vô h́nh ở bề sâu và trong thời gian vĩnh viễn, đó là hồn đất nước, là truyền thống bất khuất của dân tộc, của đất nước. Nhưng nói cái “vô h́nh” mà không rơi vào trừu tượng, khô khân, Nguyễn Đ́nh Thi đă làm hiện lên được hồn đất nước qua sự diễn tả một h́nh tượng âm thanh : “Đêm đêm ŕ rầm trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về”.

 

4. Phần thứ hai của bài thơ là những xúc cảm và suy tư của nhà thơ về đất nước trong cuộc chiến tranh - đau thương, căm hờn và bất khuất anh hùng, đứng dậy ngời sáng từ trong máu lửa. Hai cảm hứng lớn thấu suốt cả bài thơ là cảm hứng về đất nước tươi đẹp, hiền ḥa và đất nước bất khuất, anh hùng. Nhưng cũng có thể thấy rằng ở phần trên của bài, cảm hứng về đất nước tươi đẹp hiền ḥa nổi bật lên như nét chủ đạo, c̣n ở phần sau, chủ âm lại là cảm hứng về đất nước anh hùng, bất khuất.

Mở đầu là một h́nh ảnh về đất nước trong chiến tranh :

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

H́nh ảnh gây ấn tượng rất mạnh bằng thủ pháp “ngược sáng” (Contre soleil) của điện ảnh làm nổi bật những nét tương phản gay gắt : trong ánh mặt trời chiều tà chiếu chính diện với góc nh́n, cánh đồng hoang vắng vùng vành đai trắng quanh đồn giặc nhuộm đỏ ánh tà dương như cháy máu, những hàng dây kẽm gai đồn giặc tua tủa đâm lên như rách nát khoảng trời chiều. Cánh đồng, bầu trời quê hương trong buổi chiều vốn gợi cảnh êm ả thanh b́nh th́ nay trong chiến tranh, tất cả như ứa máu, đau thương, hoang vắng, chết chóc. Từ một h́nh ảnh thực thu vào nhăn giới nhà thơ trong một chiều hành quân qua vùng Bắc Giang, khi vào bài thơ, h́nh ảnh này đă mang ư nghĩa biểu tượng sâu sắc cho đất nước đau thương trong chiến tranh, dưới ách chiếm đóng của giặc.

Nếu ở hai câu trên, ḷng đau xót và căm hận chứa chất trong một h́nh ảnh ngoại cảnh, th́ hai câu tiếp theo trực tiếp bộc lộ tâm trạng của người chiến sĩ trong khung cảnh quen thuộc của cuộc đời chiến đấu: “ Những đêm dài hành quân nung nấu/ Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Vượt lên những đau thương, những gian lao nung nấu của chiến tranh, vẫn là tâm hồn cao đẹp, rực sáng của người chiến sĩ, trên cái nền dày đặc của đêm đen, bỗng vút sáng lên trong tâm tưởng của anh h́nh ảnh đôi mắt người yêu, như ngôi sao của hi vọng, của niềm tin vào sự sống và ngày mai vẫn cháy sáng trong những đêm dài. Trong những câu thơ trên, t́nh yêu và t́nh đất nước, cái riêng và cái chung đă ḥa nhập làm một trong tâm trạng của người chiến sĩ, không c̣n tách bạch ra được. Nguyễn Đ́nh Thi từng có những câu thơ hay nói về t́nh yêu của người chiến sĩ (những bài thơ “Nhớ, Bài thơ viết cạnh đồn Tây” ...), nhưng hai câu trên đây có lẽ thuộc trong số những câu cô đọng và hay nhất. Cũng không thể không nhớ đến những câu này nữa :

“Chúng ta như hai ngôi sao

Hai đầu chân trời lấp lănh

Trong không gian mênh mông xa nhau

Chiều chiều cùng sáng lên ánh sáng.

Đem ḷng hi vọng xóa thương đau”

(Bài thơ viết cạnh đồn Tây)

Năm khổ thơ cuối mang tính chính luận, tập trung thể hiện đất nước từ trong đau thương, căm hờn đứng lên chiến đầu bất khuẩn và nổi bật lên là h́nh ảnh những người anh hùng mới của thời đại - “những người áo vải”. Tư tưởng chung của đoạn thơ này cũng không phải là một phát hiện riêng của Nguyễn Đ́nh Thi, đoạn thơ lại hơi dài, v́ muốn nói cho đầy đủ (cũng là một nhược điểm khá phổ biến trong thơ của ta từ sau 1945 và trong một thời gian dài), có những câu nặng về diễn dịch ư (“Súng đạn chúng bay không bắn được/ Ḷng dân ta yêu nước, thương nhà ...”. “Thằng giặc Tây thằng chúa đất/ Đứa đè cổ, đứa lột da”). H́nh ảnh trong đoạn này thiên về lối khái quát, tượng trưng, dùng nhiều biểu tượng quen thuộc (bát cơm, nước mắt, xiềng xích, chim, hoa, áo vải, rũ bùn ...). Cách thể hiện này là một dụng ư của tác giả, để đoạn thơ có sức khái quát hơn, có thể thấy ở đây ảnh hưởng của lối thể hiện trong một số bài thơ hiện đại phương Tây.

Trong phần hai của bài thơ, nét đặc sắc trong các thủ pháp nghệ thuật tạo được hiệu quả thẩm mĩ, cùng với lối dùng h́nh ảnh khái quát-biểu tượng, chính là việc sử dụng những động từ và trạng từ tạo thành phần vị ngữ nổi bật trong nhiều câu. Để làm nổi được các h́nh ảnh và tư tưởng của đoạn thơ nhất là tạo được ấn tượng mạnh về sự vùng dậy, đứng lên chiến đấu bất khuất của cả đất nước, tác giả đă huy động cả một đội quân đông đảo các từ chi những hành động, trạng thái rất mạnh mẽ, sôi sục, quyết liệt : đâm nát, nung nấu, bồn chồn, ngời lên, bật lên, chan đầy, giằng khỏi, đè cổ, lột da, nắng đốt, mưa dội, cháy rực, rung trời ... Chúng ta hăy đọc một vài câu, chẳng hạn :

- “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

- “Đă ngời lên nét mặt quê hương”

- “Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội”

- “Trán cháy rực nghĩ trời đất mới”.

Những động từ và trạng ngữ mở rộng thành phần vị ngữ của câu thơ, làm trọng tâm của câu thơ dồn vào phần vị ngữ. Trong nhiều trường hợp, thành phần này c̣n được đảo lên trước chủ ngữ để càng nhấn mạnh, gây ấn tượng trước tiên cho người đọc.

Cùng với biện pháp nghệ thuật trên đây, c̣n có thể kể thêm các thủ pháp khác nữa nhằm khắc sâu ư tưởng của đoạn thơ này: tương phản (xiềng xích/ trời, đất; súng đạn/ḷng dân; bát cơm/ nước mắt ...), trùng điệp (khói nhà máy, kèn gọi quân; ngày nắng đốt, đêm mưa dội), ngoa dụ (ôm đất nước, bát cơm chan đầy nước mắt, trán cháy rực).

Các khổ thơ của phần này với nhịp điều ngày càng dồn dập, với hàng loạt h́nh ảnh biểu tượng, trùng điệp đă dựng lên h́nh tượng đất nước đứng lên bất khuất, mà nổi bật lên trên những đau thương, căm hờn, máu lửa và h́nh ảnh những người anh hùng áo vải.

Bài thơ kết thúc bằng một khổ theo thể sáu chữ, với lối ngắt nhịp vừa dồn dập vừa cân xứng, đĩnh đạc, hùng tráng, như bản nhạc đi tới cao trào kết thúc :

“Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng ḷa”.

Một bức tranh hoành tráng mang tính sử thi, một h́nh ảnh tượng trưng độc đáo cho đất nước đứng lên. H́nh ảnh này được h́nh thành từ một khung cảnh thực mà tác giả được chứng kiến tại chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ, trong tiếng đại bác vang rền của đợt tổng công kích cuối cùng, các chiến sĩ ta từ trong các chiến hào đầy bùn đỏ ào ạt xông lên như những thác người tràn lên đánh chiếm những vị trí cuối cùng của một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân viễn chinh Pháp. Cảnh tượng ấy quả thật là một biểu tượng vĩ đại của nước Việt Nam mới, vụt hiện ra sáng ngời, chói lọi từ trong bùn đen, khói đạn, máu lửa. Những câu thơ trên xứng đáng là một đài kỉ niệm hoành tráng về nước Việt Nam mới trong cuộc kháng chiến chống Pháp